A


Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đề nghị bạn hỏi rõ hơn nội dung: trong vụ án nào, nội dung cụ thể bản án tuyên trả lại đồ vật gì....để chúng tôi có đủ cơ sở trả lời rõ ràng cho bạn


A


Trên website của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh có nhận được yêu cầu của độc giả Đặng Quốc Hùng đề nghị giải đáp tình huống pháp luật: “Năm 2015 tôi có đi Trung Quốc làm việc trái phép, bạn tôi vẫn biết đi không giấy tờ mà vẫn đến xin đi cùng rồi sau khi quay về kiện tôi tổ chức người vượt biên trái phép, thế bạn tôi có được xem là đồng phạm không. Thế nếu hình phạt cho cả hai sẽ thế nào.”


Tôi xin trao đổi và trả lời như sau:


Tại điều 274 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “tội xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; tội ở lại Việt Nam trái phép”:  Người nào xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại Việt Nam trái phép, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.


Theo quy định của điều luật này thì độc giả Đặng Quốc Hùng và bạn của độc giả chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này nếu đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Nếu chưa bị xử lý hành chính về hành vi xuất cảnh trái phép thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.


Tại điều 275 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “tội Tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép”:


“1. Người nào tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điều 91 Bộ luật này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.


2. Phạm tội nhiều lần hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.


3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.”


Theo như độc giả đã nêu là: “Bạn tôi vẫn biết đi không giấy tờ mà vẫn đến xin đi cùng”. Như vậy, nếu độc giả không có hành vi tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài (trừ xuất cảnh trái phép) thì độc giả không phạm tội “Tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép” theo điều 275 BLHS năm 1999.


Trên đây là nội dung trao đổi, trả lời thư của độc giả Đặng Quốc Hùng. Rất mong độc giả luôn quan tâm đến trang website của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh.


A


Nội dung sự việc cháu nêu trên Viện KSND tỉnh Bắc Ninh trả lời cháu như sau: Để giải quyết vụ việc dứt điểm, cháu cần làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh để Tòa án thu thập, xác minh nếu xác định đúng của hàng Viettel đã sử dụng Chứng minh thư nhân dân của cháu để đăng ký cho người khác sử dụng 04 sim trả sau mà không có sự đồng ý của cháu thì Tòa án sẽ hủy các hợp đồng đó vì vô hiệu, sau đó thì cháu mới có quyền đang ký theo chứng minh nhân dân của cháu.


Chúc cháu thành công !


Phòng 9 - Viện KSND tỉnh Bắc Ninh


A


Ngày 18 tháng 11 năm 2016 trên trang web của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh có nhận được thư của một độc giả dấu tên hỏi và nhờ VKSND tỉnh Bắc Ninh giải đáp thắc mắc về việc độc giả có em trai tên là Nguyễn văn Đ, ngày 27 tháng 9 năm 2016, Đ có mua hộ một người bạn tên là T (T là đối tượng nghiện hút ma túy) 200.000đ tiền ma túy, khi mua xong thì Đ bị công an bắt quả tang. Trong thư yêu cầu, độc giả hỏi T và Đ có phạm tội không, phạm tội gì, hình phạt như thế nào.Trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành, tôi xin trao đổi và trả lời như sau:


Điều 194 Bộ luật hình sự quy định : "tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phep hoặc chiếm đoạt chất ma túy":


1.Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bẩy năm.


Tại điểm 3.1 phần II Thông tư liên tịch số 17 ngày 24/12/2007 của liên bộ: Bộ Công an- Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Tòa án nhân dân tối cao- Bộ tư pháp Quy định : "tàng trữ trái phép chất ma túy là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào: (như trong nhà, ngoài vườn, cất giấu trong quần áo...) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này".


Tại điểm 3.6 phần II Thông tư liên tịch trên quy định: người nào tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy với số lượng sau đây không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác thì áp dụng khoản 4 điều 8 BLHS, theo đó không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hành chính:


a) Nhựa thuốc phiện, cần sa hoặc Caococa có trọng lượng dưới một gam;


b) Hê rô in hoặc Cô ca in có trọng lượng dưới không phẩy một gam;


c) Lá, hoa, quả cây cần xa hoặc lá cây Cô ca có trọng lượng dưới một ki lô gam;


d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng dưới năm ki lô gam;


đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng dưới một ki lô gam;


e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng dưới một gam;


g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ mười mi li lit trở xuống.


Tại tiết đ điểm 3.7 phần II của thông tư này quy định: Người nào biết người khác mua chất ma túy để sử dụng trái phép mà dùng phương tiện để chở họ cùng chất ma túy và bị bắt nếu số lượng chất ma túy đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy thì người đó là đồng phạm với người mua về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại điều 194 BLHS.


Như vậy, về mặt khách quan, Dương anh T có dấu hiệu của tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Nguyễn văn Đ có dấu hiệu là đồng phạm với T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điều 194 BLHS.


Tuy nhiên, để có cơ sở kết luận T và Đ có phạm tội hay không cần căn cứ vào trọng lượng ma túy mà Đ mua hộ T. Lượng ma túy để xác định có phạm tội hay không phạm tội cần căn cứ vào điểm 3.6 phần II của thông tư liên tịch số 17 như đã phân tích ở trên và cứ vào nhân thân của T và Đ. Việc xác định trọng lượng ma túy do cơ quan có thẩm quyền kết luận bằng kết quả giám định theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật.


Nếu kết quả giám định xác định trọng lượng ma túy thu giữ được là từ 0,1g trở lên thì đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự nêu trên.


Trên đây là nội dung trao đổi, trả lời độc giả của trang web của Ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Rất mong độc giả tiếp tục quan tâm đến trang web của Ngành. Chúc độc giả và gia đình mạnh khỏe./




Người trả lời: Vũ Viết Tuấn - Kiểm sát viên phòng 7 Viện KSND tỉnh Bắc Ninh