Thứ bảy, ngày 25/10/2014

Danh mục

Trang địa phương

sbn1

sbn2

sbn3

sbn4

Liên kết ngoài

Zy

sopy

sy

Quản lý án hình sự

x

Một số vấn đề về án treo.

13:45 | 26/08/2013

Trong thời gian gần đây, trên phương diện nghiên cứu và trong thực tiễn áp dụng pháp luật đã nảy sinh những nhận thức khác nhau về án treo, về cách tổng hợp hình phạt trong trường hợp bị cáo có một bản án phạt tù nhưng được hưởng án treo, về cách quy định thời gian thử thách đối với bị cáo được hưởng án treo.v.v.

Chẳng hạn, có ý kiến cho rằng, trong trường hợp bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách của án treo thì khi tổng hợp hình phạt chung, Toà án cần trừ đi thời gian họ đã chấp hành thời gian thử thách. Thậm chí, có tác giả đã sử dụng khái niệm “hình phạt án treo”(*). Có trường hợp bị cáo phạm hai tội, Toà án tuyên hình phạt và cho hưởng án treo đối với từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt chung và thời gian thử thách chung... Để có sự nhận thức và áp dụng pháp luật thống nhất trong bài viết này, chúng tôi trao đổi một số vấn đề về án treo để bạn đọc cùng tham khảo.

 

1. Trước hết, về bản chất của án treo:

Hiện nay, án treo được quy định tại Điều 60 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 và Mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, trong các văn bản này không có điều khoản nào định nghĩa về án treo. Nhưng xuất phát từ các quy định về án treo, có thể định nghĩa như sau: Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù một cách có điều kiện. Điều kiện của án treo là người bị phạt tù có thời hạn phải bị tuyên một thời gian thử thách và trong thời gian thử thách đó, họ không được phạm tội mới; nếu họ phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ sẽ phải chấp hành một hình phạt chung trên cơ sở tổng hợp hình phạt của tội mới với toàn bộ hình phạt của bản án treo. Như vậy, nói đến án treo, chúng ta thấy có các yếu tố cấu thành sau đây: Tội danh, hình phạt tù có thời hạn (với điều kiện mức hình phạt tù không quá 3 năm, bao gồm cả trường hợp đây là mức tổng hợp hình phạt chung của nhiều tội), thời gian thử thách (với điều kiện mức thời gian thử thách không dưới 1 năm và không quá 5 năm). Ngoài ra, bản án treo có thể tuyên về các nội dung khác như bồi thường thiệt hại, án phí.v.v. Nói tóm lại, một người được Toà án cho hưởng án treo là người bị tuyên một mức phạt tù không quá 3 năm, được Toà án xem xét, đánh giá các yếu tố về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù ở trại giam nên cho miễn chấp hành hình phạt tù đó, với điều kiện là Toà án tuyên một thời gian thử thách đối với bị cáo. Nếu trong thời gian thử thách mà phạm tội mới thì họ phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên (tổng hợp với hình phạt của tội mới). Nếu hết thời gian thử thách mà họ không phạm tội mới thì đương nhiên họ được miễn chấp hành hình phạt tù đã bị Toà án tuyên. Như vậy, nói đến án treo, cần phân biệt các vấn đề sau đây:

Một là, án treo không phải là hình phạt, mà là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù một cách có điều kiện;

Hai là, án treo chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 60 BLHS và tiểu mục 6.1, tiểu 6.2 Mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Các điều kiện này được gọi là điều kiện để cho hưởng của án treo. Theo đó, Toà án chỉ cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện như: Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì; có nhân thân tốt; có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng; nếu không bắt họ chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội...

Khi cho bị cáo hưởng án treo, Toà án phải tuyên thời gian thử thách (theo quy định tại khoản 1 Điều 60 BLHS và hướng dẫn tại các tiểu mục 6.4 và 6.5 Mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP nêu trên). Bị cáo được cho hưởng án treo thì không phải vào trại giam để chấp hành hình phạt tù nhưng phải chấp hành thời gian thử thách. Nếu không phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ không phải (được miễn) chấp hành hình phạt tù đã tuyên. Nếu họ phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ sẽ phải chấp hành toàn bộ hình phạt tù của án treo. Đây chính là điều kiện của án treo. Như vậy, người bị kết án chấp hành thời gian thử thách của án treo thực chất là chấp hành điều kiện của án treo chứ không phải là chấp hành hình phạt. Đó là lý do tại sao khi người bị án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ sẽ phải chấp hành hình phạt chung trên cơ sở tổng hợp toàn bộ hình phạt tù của bản án treo với hình phạt của tội mới mà không được trừ đi thời gian họ đã chấp hành thời gian thử thách của án treo. Như vậy, cần phân biệt sự khác nhau giữa “điều kiện để cho hưởng án treo” với “điều kiện của án treo”.

Vì án treo không phải là hình phạt nên không thể so sánh án treo với các hình phạt khác như hình phạt tù có thời hạn, cải tạo không giam giữ hoặc hình phạt tiền. Tuy nhiên, có thể so sánh bản án treo với các bản án khác như bản án phạt tù có thời hạn, bản án phạt tiền (với tư cách là hình phạt chính) hoặc bản án phạt cải tạo không giam giữ; qua đó, để thấy tính chất của tội phạm và tình trạng của người bị kết án.

Nếu so sánh bản án phạt cải tạo không giam giữ với bản án treo sẽ cho chúng ta thấy: Tính chất của tội phạm trong bản án phạt cải tạo không giam giữ ít nghiêm trọng hơn tội phạm trong bản án treo. Bởi lẽ, tội phạm trong bản án treo thì bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn, còn tội phạm trong bản án cải tạo không giam giữ thì bị phạt hình phạt chính là cải tạo không giam giữ (là loại hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn).

Nếu so sánh bản án treo với bản án phạt tù có thời hạn và không được hưởng án treo (tù giam) trong điều kiện bị cáo cùng bị áp dụng mức hình phạt tù như nhau thì tính chất của tội phạm (xếp theo 4 loại tội phạm: Ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng) có thể ngang nhau hoặc không ngang nhau. Ví dụ, trường hợp A phạm tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS (tội phạm ít nghiêm trọng) và bị phạt tù là 2 năm 5 năm tháng nhưng được cho hưởng án treo; B phạm tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 BLHS (tội phạm nghiêm trọng), bị phạt là 2 năm 5 tháng tù (giam). B không được Toà án cho hưởng án treo vì đánh giá nhân thân của bị cáo B xấu hơn so với bị cáo A. Và tất nhiên, tình trạng của bị cáo B trong bản án phạt tù giam xấu hơn so với tình trạng của bị cáo A trong bản án treo vì họ phải đi chấp hành hình phạt tù giam trong trại giam.

 

2. Thời gian thử thách của án treo

Thời gian thử thách là điều kiện bắt buộc của án treo. Theo quy định tại Điều 60 BLHS thì mức thời gian thử thách từ một năm đến năm năm (nói cách khác là không dưới một năm và không quá năm năm). Ngoài ra, theo hướng dẫn tại tiểu mục 6.4 Mục 6 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 thì cách tính để xác định mức thời gian thử thách như sau:

- Trường hợp người bị xử phạt tù không bị tạm giam thì thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới một năm và không quá năm năm;

- Trường hợp người bị xử phạt tù đã bị tạm giam thì lấy mức hình phạt tù trừ đi thời gian đã bị tạm giam để xác định mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành. Thời gian thử thách trong trường hợp này bằng hai lần mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành nhưng không được dưới một năm và không quá năm năm.

Trong trường hợp đặc biệt, Toà án có thể ấn định thời gian thử thách ngắn hơn mức đã được hướng dẫn trong 2 trường hợp nêu trên nhưng phải nêu rõ lý do trong bản án.

Trong thực tiễn, khi áp dụng hướng dẫn nói trên, có Toà án đã áp dụng một cách máy móc nên đã ấn định mức thời gian thử thách tính đến ngày, gây khó khăn cho việc theo dõi việc thi hành thời gian thử thách. Ví dụ, bị cáo A bị phạt 2 năm 6 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” và cho hưởng án treo. Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, A đã bị tạm giữ, tạm giam 3 tháng 14 ngày. Toà án đã trừ 3 tháng 14 ngày này vào mức hình phạt tù, buộc A phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 2 năm 2 tháng 16 ngày. Đồng thời, tuyên A phải chấp hành thời gian thử thách là 4 năm 5 tháng 2 ngày. Cách ấn định thời gian thử thách trong trường hợp này tuy không sai pháp luật nhưng máy móc, gây khó khăn cho việc theo dõi quá trình chấp hành thời gian thử thách. Trong khi đó, Toà án có quyền ấn định một mức thời gian thử thách chẵn (như 4 năm 5 tháng trong ví dụ nêu trên).

 

3. Tổng hợp hình phạt của bản án treo với các hình phạt khác

Tại khoản 5 Điều 60 BLHS quy định: Nếu người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Toà án quyết định buộc họ phải chấp hành toàn bộ hình phạt của bản án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 BLHS. Người được hưởng án treo phải chấp hành toàn bộ hình phạt của bản án treo mà không được trừ đi thời gian đã chấp hành thời gian thử thách, bởi lẽ, như đã phân tích ở trên, bản chất của việc chấp hành thời gian thử thách là chấp hành điều kiện của án treo chứ không phải là chấp hành hình phạt. Do vậy, khi cần tổng hợp hình phạt của bản án treo với các hình phạt khác thì chỉ cần tổng hợp hình phạt tù của bản án treo với các hình phạt khác theo quy định tại Điều 51 BLHS.

 

4. Xoá án tích với người được hưởng án treo

Tại Điều 64 BLHS quy định những trường hợp đương nhiên được xoá án tích, trong đó có trường hợp “người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI và chương XXIV BLHS, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây: Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo...”. Cần chú ý là, việc xoá án tích với người được hưởng án treo chỉ đặt ra khi người đó đã chấp hành xong bản án treo. Việc chấp hành xong bản án treo không chỉ hiểu với nghĩa là họ đã chấp hành xong thời gian thử thách (mà không phạm tội mới) mà còn phải chấp hành xong các nội dung khác trong bản án treo như: Án phí, các hình phạt bổ sung (nếu có). Do vậy, không phải đương nhiên khi người được hưởng án treo chấp hành xong thời gian thử thách thì đương nhiên được xoá án tích mà Toà án vẫn phải xem xét việc họ đã chấp hành xong các nghĩa vụ khác trong bản án treo thì mới công nhận việc xoá án tích cho người bị kết án.

Nguồn: tapchikiemsat.org.vn

 


Gửi bình luận của bạn:

Các bài cùng chủ đề

Các tin mới
Các tin khác

Xem bài trước Xem bài theo tháng» Xem bài sau