Thứ ba, ngày 23/09/2014

Danh mục

Trang địa phương

sbn1

sbn2

sbn3

sbn4

Liên kết ngoài

Zy

sopy

sy

Quản lý án hình sự

x

Những nội dung cơ bản của Luật xử lý vi phạm hành chính

08:55 | 15/08/2012

Ngày 20 tháng 6 năm 2012, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII kỳ họp thứ 3 đã thông qua Nghị quyết số 24/2012/NQ13, Chủ tịch nước đã Lệnh công bố Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do TAND xem xét, quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014. Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu một số nội dung cơ bản của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

 

Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013. Theo đó, Luật Xử lý vi phạm hành chính gồm có 6 phần với 12 chương và 142 điều, trong đó Phần thứ nhất về những quy định chung được quy định từ Điều 1 đến Điều 20; Phần thứ hai quy định về xử phạt vi phạm hành chính gồm 3 chương, 68 điều, từ Điều 21 đến Điều 88; Phần thứ ba quy định về các biện pháp xử lý hành chính gồm 5 chương, 30 điều, từ Điều 89 đến Điều 118; Phần thứ tư quy định về các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính gồm 2 chương, 14 điều từ Điều 119 đến Điều 132; Phần thứ năm là những quy định đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính gồm 2 chương, 8 điều, từ Điều 133 đến Điều 140; Phần thứ sáu là phần quy định về điều khoản thi hành. Theo đó, Luật xử lý vi phạm hành chính có những điểm nổi bật đáng chú ý sau:

 

 

 

* Về một số quy định chung: Về cơ bản, các quy định trong phần này được xây dựng trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính. Một số quy định mới được nghiên cứu bổ sung như: Nguyên tắc về trách nhiệm chứng minh hành vi vi phạm, nguyên tắc xử lý công khai, nguyên tắc đảm bảo pháp chế trong quá trình xử lý, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật; giải thích một số thuật ngữ thường được sử dụng trong quá trình áp dụng pháp luật như vi phạm hành chính, tái phạm, vi phạm nhiều lần, tình thế cấp thiết; quy định những hành vi bị nghiêm cấm như can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính, sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước.

 

 

 

Nội dung mới nổi bật ở Phần này là Luật Xử lý vi phạm hành chính đã bổ sung một điều quy định về trách nhiệm của Chính phủ trong việc thống nhất quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ trong việc thực hiện công tác này; Tòa án nhân dân, các Bộ, Ngành và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp với Bộ tư pháp trong việc thực hiện công tác quản lý thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (Điều 17). Quy định này được ban hành để khắc phục những bất cập trong thời gian vừa qua, làm cơ sở pháp lý để theo dõi, kiểm tra, báo cáo, thống kê, xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính.

 

 

 

* Về xử phạt vi phạm hành chính: Phần này quy định về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả và nguyên tắc áp dụng; thẩm quyền xử phạt và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả; thủ tục xử phạt, thi hành quyết định xử phạt và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt.

 

So với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính thì Luật Xử lý vi phạm hành chính có bổ sung hình thức xử phạt mới là đình chỉ hoạt động có thời hạn và quy định áp dụng linh hoạt giữa hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung đối với cùng một hình thức xử phạt vi phạm hành chính.

 

Riêng đối với hình thức phạt tiền, khác với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, tại Điều 23 của Luật Xử lý vi phạm hành chính đã phân định mức phạt tiền tối thiếu và tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính giữa cá nhân và tổ chức, theo đó, mức phạt tiền đối với cá nhân là từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, đối với tổ chức là từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng; ghi nhận cơ chế xử phạt đặc thù đối với khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương, Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào hành vi, khung tiền phạt do Chính phủ quy định và yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của địa phương có thể quy định mức phạt cao hơn trong lĩnh vực giao thông đường bộ, bảo vệ môi trường và an ninh trật tự, an toàn xã hội, nhưng không quá 02 lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm đã được quy định tại các Nghị định của Chính phủ.

 

Bên cạnh đó, tại Điều 24 của Luật cũng ghi nhận mức phạt tiền được quy định trong các luật khác như luật quản lý thuế, đo lường, sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm hàng hóa, chứng khoán, hạn chế cạnh tranh và quy định mức phạt tối đa đối với các lĩnh vực quản lý nhà nước là mức phạt áp dụng đối với cá nhân, mức phạt đối với tổ chức được áp dụng gấp 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

 

Ngoài ra, Luật cũng bổ sung thêm một số biện pháp khắc phục hậu quả để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công tác xử phạt vi phạm hành chính như biện pháp buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn; buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính...

 

Đối với các quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính (Chương II, Phần thứ 2), Luật Xử lý vi phạm hành chính có bổ sung thêm một số chức danh mới của lực lượng an ninh theo thẩm quyền xử phạt của Công an nhân dân (Điều 39), Cục trưởng/Tổng cục trưởng các Tổng cục/Cục hải quan, thuế, cơ quan Thi hành án dân sự. Riêng thẩm quyền xử phạt của thanh tra (Điều 46), Luật bổ sung thẩm quyền xử phạt của người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành và người đứng đầu của cơ quan được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành ở các cấp theo tinh thần của Luật Thanh tra.

 

Điểm mới nữa trong cách quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh lần này là một số chức danh có thẩm quyền chung (như Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp), các chức danh có thẩm quyền xử phạt theo địa bàn thực hiện xử phạt trong nhiều lĩnh vực (như Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Thanh tra) Luật không quy định thẩm quyền xử phạt tiền của từng chức danh này theo một mức phạt tiền cố định như Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính mà quy định theo tỷ lệ phần trăm (%) so với các mức phạt tối đa được quy định tại Điều 24, đồng thời có khống chế mức trần.

 

Ngoài ra, để thực hiện nguyên tắc phân định mức phạt tiền tối thiểu và tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính giữa cá nhân và tổ chức quy định tại Điều 24, trong Phần này, Luật Xử lý vi phạm hành chính bổ sung nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt tại Điều 52, theo đó, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt tổ chức gấp 2 lần thẩm quyền xử phạt cá nhân và được xác định theo tỷ lệ phần trăm quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính đối với chức danh đó. Trường hợp phạt tiền đối với vi phạm hành chính trong khu vực nội thành, thì các chức danh có thẩm quyền phạt tiền đối với các hành vi vi phạm hành chính do Chính phủ quy định cũng có thẩm quyền xử phạt tương ứng với mức tiền phạt cao hơn đối với các hành vi vi phạm hành chính do Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương quy định áp dụng trong nội thành.

 

Bên cạnh đó, tại Điều 53 của Luật Xử lý vi phạm hành chính đã quy định bổ sung cơ chế xử lý thẩm quyền phạt tiền trong trường hợp có sự thay đổi tên gọi của chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, nhằm bảo đảm tính linh hoạt trong việc áp dụng quy định về thẩm quyền xử phạt tiền.

 

Đồi với các quy định về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, ngoài việc kế thừa các quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính về thủ tục xử phạt không lập biên bản, biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt, thời hạn ra quyết định xử phạt, thi hành quyết định xử phạt, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt..., Luật Xử lý vi phạm hành chính đã có những thay đổi lớn về thủ tục xử phạt theo hướng công khai, minh bạch như các quy định về trách nhiệm của người có thẩm quyền xử phạt trong việc xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính (Điều 59); quy định chặt chẽ điều kiện tạm giữ tang vật để định giá (Điều 60); về việc giải trình (có thể bằng văn bản và giải trình trực tiếp) trong trường hợp vi phạm hành chính mà pháp luật quy định áp dụng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức (Điều 61); về trách nhiệm của cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong việc công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong các lĩnh vực như an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; dược; khám bệnh, chữa bệnh; lao động; xây dựng; bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; bảo vệ môi trường; thuế; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; đo lường; sản xuất, buôn bán hàng giả mà gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội (Điều 72); bổ sung các quy định về miễn, giảm tiền phạt (Điều 77).

 

 

 

* Về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính: Luật Xử lý vi phạm hành chính kế thừa quy định 4 biện pháp xử lý hành chính đã được quy định trong Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, đó là biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong đó, Luật quy định cụ thể về đối tượng áp dụng của từng biện pháp; thời hạn áp dụng của từng biện pháp (từ Điều 89 đến Điều 96 - Chương I, Phần thứ ba); thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính (từ Điều 97 đến Điều 104 - Chương II, Phần thứ ba); thẩm quyền, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính (Điều 105 và Điều 105 - Chương III, Phần thứ ba); thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính (từ Điều 107 đến Điều 114 - Chương IV, Phần thứ ba) và các quy định khác liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính (từ Điều 115 đến Điều 118 - Chương V, Phần thứ ba).

 

Có thể thấy, các biện pháp nêu trên là những biện pháp cưỡng chế nhà nước, nếu được áp dụng sẽ làm hạn chế quyền tự do của đối tượng bị áp dụng biện pháp, đặc biệt là các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chính vì vậy, nội dung của các biện pháp trong Luật này có sự thay đổi khá lớn về đối tượng áp dụng, thủ tục áp dụng, thẩm quyền quyết định áp dụng... để khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh; tăng cường công khai, minh bạch, dân chủ, bảo đảm cho người bị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính và đại diện hợp pháp của họ có cơ hội được giải thích, biện hộ cho vụ việc của m­ình. Những nội dung có sự thay đổi lớn đó là:

 

- Về thẩm quyển quyết định áp dụng biện pháp: Luật quy định chuyển thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính từ Chủ tịch Ủy ban nhân dân sang Toà án nhân dân xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (khoản 2 Điều l05). Đây là nội dung thay đổi rất lớn so với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính thể hiện xu hướng tiến bộ, dân chủ, thực hiện đúng tinh thần "các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người" đã được khẳng định tại Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp.

 

- Về thủ tục lập hồ sơ đề nghị xem xẹt quyết định áp dụng biện pháp: Luật quy định theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng không thành lập Hội đồng tư vấn như Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính. Hồ sơ sau khi được lập sẽ được gửi đến Trưởng phòng tư pháp cấp huyện để kiểm tra tính pháp lý trước khi Trưởng Công an cùng cấp hoặc Trường phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chuyển đến Tòa án nhân dân xem xét quyết định áp dụng biện pháp; Luật cũng quy định rõ hồ sơ được lập; ghi nhận sự tham gia của đối tượng, người đại diện hợp pháp của họ tham gia quá trình lập hồ sơ như quyền đọc hồ sơ và ghi chép những nội dung cần thiết...

 

+ Đối với biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Luật quy định và giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp này, có bổ sung các quy định để bảo đảm quy trình thực hiện minh bạch, dân chủ hơn. Cụ thể như quy định rõ về việc lập hồ sơ; ghi nhận sự tham gia của đối tượng và người đại diện hợp pháp của họ trong quá trình xem xét quyết định áp dụng biện pháp như quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết (khoản 4 Điều 97); bổ sung trách nhiệm của công chức tư pháp - hộ tịch trong việc kiểm tra hồ sơ và tổ chức cuộc họp tư vấn; quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, người được phân công giúp đỡ đối tượng; quy định về khoản kinh phí hỗ trợ cho việc quản lý, giúp đỡ, giáo dục đối tượng...

 

Riêng về đối tượng áp dụng biện pháp, so với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính có sự thay đổi theo hướng hạn chế áp dụng biện pháp đối với người chưa thành niên từ đủ 12 đến dưới 14 tuổi; bỏ đối tượng là người bán dâm có tính chất thường xuyên từ đủ 14 tuổi trở lên có nơi cư trú nhất định; chuyển đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là "người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự" về để hạn chế tối đa việc tước quyền tự do và tách trẻ em ra khỏi môi trường gia đình, xã hội.

 

Một điểm thay đổi nữa trong đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là trường hợp người chưa thành niên không có nơi cư trú ổn định, nếu theo quy định tại Điều 24 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính thì đối với trường hợp là người chưa thành niên không có nơi cư trú ổn định sẽ thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, nhưng theo Luật Xử lý vi phạm hành chính thì đối tượng này sẽ được giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em để quản lý, giáo dục trong thời gian chấp hành biện pháp giáo đục tại xã, phường, thị trấn (khoản 6 Điều 90) thay vì đưa vào trường giáo dưỡng.

 

+ Đối với đối tượng bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc (tiền thân là biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh áp dụng đối với 02 loại đối tượng là người nghiện ma túy, người bán dâm có tính chất thường xuyên), do Luật Xử lý vi phạm hành chính bỏ đối tượng là người bán dâm có tính chất thường xuyên nên biện pháp này theo Luật chỉ áp dụng đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp đụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định (khoản 1 Điều 96).

 

Riêng đối với người bán dâm, việc đưa người bán dâm vào cơ sở chữa bệnh là không đúng với bản chất, tên gọi của biện pháp xử lý. Việc áp dụng biện pháp này đối với người bán dâm là quá nghiêm khắc, không phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm vả không bảo đảm sự công bằng trong chính sách xử lý. Hành vi của người bán dâm chưa đến mức phải áp dụng biện pháp hạn chế quyền tự do mà chỉ cần phạt tiền như đối với người mua dâm theo quy định của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm là phù hợp. Thực tế thời gian qua cho thấy, việc áp dụng biện pháp này gây tốn kém cho ngân sách Nhà nước mà hiệu quả mang lại không cao. Mặt khác, những người bán dâm tuy có vi phạm pháp luật, nhưng xét về yếu tố xã hội thì đa số lại là nạn nhân. Vì vậy, bỏ quy định đưa người bán dâm vào cơ sở chữa bệnh là sự đổi mới trong thái độ đối xử với người bán dâm, phù hợp với tính chất của hiện tượng xã hội này. Để hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của việc không đưa người bán dâm vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, Chính phủ thông qua các giải pháp kinh tế - xã hội, chương trình quốc gia về dạy nghề, vay vốn, tạo công ăn việc làm, tạo điều kiện, giúp đỡ để các đối tượng này có việc làm, có thu nhập ổn định, hoà nhập cộng đồng; tăng cường thực hiện mạnh mẽ các chương trình phòng, chống HIV/AIDS và chống các bệnh lây lan qua đường tình dục...

 

 

 

* Về các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính (Phần thứ tư của Luật): Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định 9 biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính. Trong 9 biện pháp, thì biện pháp áp giải người vi phạm là biện pháp mới được bổ sung (Điều 124); biện pháp giao cho gia đình, tổ chức quản lý người đang trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính được thay đổi tên gọi từ biện pháp bảo lãnh hành chính (Điều 131).

 

So với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, các quy định về biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính trong Luật Xử lý vi phạm hành chính có sự thay đổi khá lớn về điều kiện, thẩm quyền... áp dụng một số biện pháp ngăn chặn để hạn chế tối đa việc áp dụng các biện pháp liên quan đến nhân thân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức vi phạm và bảo đảm tính khả thi của quy định trên thực tiễn; quy định chặt chẽ các điều kiện áp dụng các biện pháp ngăn chặn như đối với biện pháp tạm giữ người (Điều 122) chỉ tạm giữ trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác (Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính quy định cả trong trường hợp cần thu thập, xác minh những tình tiết quan trọng làm căn cứ để quyết định xử lý vi phạm hành chính); đối với biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề (Điều 125) chỉ áp dụng trong trường hợp để xác minh tình tiết mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt hoặc để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội và để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt trong trường hợp chỉ áp dụng hình thức xử phạt tiền; trường hợp bị tạm giữ phương tiện giao thông để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt, nếu đáp ứng các điều kiện quy định thì cá nhân, tổ chức vi phạm có thể tự tạm giữ phương tiện dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền...

 

Bên cạnh đó, Điều 126 Luật quy định một số nội dung mới về xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ theo thủ tục hành chính, cụ thể, đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. Trong trường hợp này, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách Nhà nước. Trường hợp chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp có lỗi trong việc để người vi phạm sử dụng tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì có thể bị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

 

 

* Về các quy định để xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính: Khác với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Luật ghi nhận một phần mới đưa ra những quy định đặc thù để người có thẩm quyền ưu tiên xem xét ra quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, khi người chưa thành niên vi phạm, họ không phải chịu các chế tài xử lý vi phạm hành chính với mức độ tương tự như áp dụng đối với các hành vi vi phạm của người đã thành niên thực hiện. Nội dung phần này quy định về nguyên tắc xử lý; việc áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả; áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính và các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên (Chương II, Phần thứ năm), trong đó, phần các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên như các biện pháp nhắc nhở (Điều 139), quản lý tại gia đình (Điều 140) là những biện pháp hoàn toàn mới so với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính./.



Theo Hà Thái - tapchikiemsat.org.vn

Gửi bình luận của bạn:

Các bài cùng chủ đề

Các tin mới
Các tin khác

Xem bài trước Xem bài theo tháng» Xem bài sau