Thứ hai, ngày 21/04/2014

Danh mục

Trang địa phương

sbn1

sbn2

sbn3

sbn4

Liên kết ngoài

Zy

sopy

sy

Quản lý án hình sự

x

Luật Hồng Đức

QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

( BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC )


 

I.Sự Ra Đời Của Bộ Luật Hồng Đức

Sự phát triển cao đôï của chế độ phong kiến tập quyền thời Lê sơ còn đề ra nhiều yêu cầu một bộ pháp luật hoàn chỉnh để cố định những trật tự xã hội có lợi cho giai cấp thống trị, để bảo vệ và bênh vực nền chuyên chính của giai cấp phong kiến. Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, bộ Quốc Triều Hình Luật (tức Luật Hồng Đức) đã ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu phát triển sang giai đoạn mới của chế độ phong kiến Việt Nam. Bộ luật Hồng Đức là bộ luật được nhiều nhà khoa học trong nước và nước ngoài đánh giá rất cao về phương diện trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Bộ luật Hồng Đức đã trải qua một quá trình xây dựng lâu dài từ thời Lê Thái Tổ đến thời Lê Thánh Tông mới hoàn thành.

Ngay sau khi lên ngôi vua, trong năm 1428, Lê Lợi đã cùng với các đại thần bàn định một số luật lệ về kiện tụng, về phân chia ruộng đất của thôn xã. Những thứ hình phạt, những lễ ân giảm trong Luật Hồng Đức (49 điều thuộc chương Danh lệ) phần lớn đều được quy định trong thời Lê Thái Tổ. Ba mươi hai điều luật trong chương Điền sản để pháp chế hóa các thể lệ quân điền cũng được quy định chặt chẽ trong những năm Thuận Thiên (1428-1433) và được thực hiện suốt trong thời Lê sơ. Tuy vậy chỉ mới là bước đầu xây dựng, nên luật pháp thời Thái Tổ còn có nhiều thiếu sót nhất là về phương diện tư hữu tài sản. Những thiếu sót ấy sẽ được các triều vua sau bổ sung thêm.

Ÿ Trong thời Thái Tông (1434-1442), một số nguyên tắc xét xử các vụ kiện cáo về một số điều luật nghiêm cấm nạn hối lộ, hành động giao thiệp với nước ngoài được xây dựng thêm.

Ÿ Đến năm 1449, Nhân Tông ban hành 14 điều luật khẳng định về bảo vệ quyền tư hữu ruộng đất, quy định nguyên tắc xét xử những hành động xâm phạm đến quyền tư hữu ruộng đất. Theo nhà sử học Phan Huy Chú thì “từ đó về sau các vụ tranh kiện về phân chia tài sản trong dân gian mới có tiêu chuẩn” (Hình luật chí trong Lịch triều hiến chương loại chí).

Ÿ Sang thời Thánh Tông, triều đình liên tiếp ban bố nhiều điều lệ về kế thừa hương hỏa, về việc bảo vệ tôn ty trật tự về đạo đức phong kiến, về việc trấn áp mọi hành vi chống đối hay làm nguy hại đến địa vị thống trị của giai cấp phong kiến. Hai bộ luật Hồng Đức Thiện Chính ThưThiên Nam Dư Hạ Tập còn ghi chép lại nhiều điều luật ban bố về thi hành trong thời Thánh Tông, theo thứ tự từng năm. Riêng trong bộ luật Thiên Nam Dư Hạ Tập, còn ghi lại 40 điều luật thi hành trong năm Quang Thuận (1460-1469) và 61 điều trong năm Hồng Đức (1470-1497).

Ÿ Năm 1483, vua Thánh Tông sai các triều thần sưu tập tất cả các điều luật, các pháp lệnh đã ban bố và thi hành trong các triều vua thời Lê Sơ, san định lại, xây dựng thành một bộ pháp điển hoàn chỉnh. Đó là bộ Quốc Triều Hình Luật, mà người ta thường gọi là bộ Luật Hồng Đức, để đề cao vai trị xây dựng của vua Lê Thánh Tông. Thực ra bộ luật đó không phải là do vua Lê Thánh Tông sáng tạo ra, cũng không phải được xây dựng riêng trong những năm Hồng Đức (1470-1497), mà là sản phẩm của một thời kỳ phát triển cực thịnh của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam, trong cả thời Lê Sơ. Công lao của triều vua Lê Thánh Tông là đã san định các luật lệ của những triều vua trước để hoàn thành bước xây dựng bộ pháp điển ấy.

Ÿ Bộ Luật Hồng Đức, sau khi được xây dựng đã trở thành pháp luật của thời Lê Sơ và của các triều đại sau cho đến thế kỷ XVIII. Các triều đại phong kiến thời Lê Trung Hưng (1533-1789) sau này vẫn lấy bộ Luật Hồng Đức làm quy tắc mẫu mực, chỉ sửa đổi, bổ sung thêm một số điều khoản phụ cho thích hợp với hoàn cảnh xã hội đương thời mà thôi.

Ÿ Bộ Luật Hồng Đức là một bộ luật điển hình, hoàn thiện nhất trong lịch sử Nhà nước phong kiến Việt Nam. Bộ luật chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ, nhân văn sâu sắc, kỹ thuật pháp lí hoàn thiện hơn so với các bộ luật cùng thời, có những điểm tiếp cận gần với kỹ thuật pháp lí hiện đại.

II. Nội Dung Bộ Luật

         Về hình thức, cấu trúc của Quốc Triều Hình Luật được mô phỏng theo cấu trúc của bộ luật nhà Đường. Quốc Triều Hình Luật có 722 điều và chia thành 13 chương:


  • Chương Danh Lệ.
  • Chương Cấm Vệ.
  • Chương Vi Chế.
  • Chương Quân Chính.
  • Chương Hộ Hôn.
  • Chương Điền Sản.
  • Chương Thông Gian.
  • Chương Đạo Tặc.
  • Chương Đấu Tụng.
  • Chương Trá Nguy.
  • Chương Tạp Luật.
  • Chương Bộ Vong.
  • Chương Đoán Ngục.


 

Bộ luật này là bộ luật bao gồm phạm vi luật pháp trên những điều luật về hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, tố tụng. Trong đó các quan hệ dân sự được đề cập tới nhiều nhất là các lĩnh vực như: quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng và thừa kế ruộng đất.

            Chương Cấm Vệ: nghiêm cấm các hành vi xâm hại đến hoàng thành, cung điện, xâm hại đến tài sản tính mạng của vua và hoàng tộc. Như điều 51: “ Người tự tiện vào cửa hoàng thành bị tội đánh trượng hoặc biếm; vào cửa cấm phải tội đồ làm chủng điền binh; vào cửa thứ hai phải tội lưu đày đến châu gần; vào cửa cung môn thì phải chém. Nếu mang gươm cầm trượng thì tội nặng thêm hai bậc và tài sản phải tịch thu sung công...”. chương này còn nghiêm cấm hành vi xâm hại đến an ninh quốc gia, đến vấn đề biên giới, nghiêm cấm việc tiết lộ bí mật quốc gia, không được đem ruộng đất bán cho người nước ngoài. Những người phạm tội trên, hình phạt nặng từ đồ, lưu đến tử hình.

            Chương Quân Chính: chương này gồm những điều luật liên quan tới những quy chế trong quân đội, xử phạt các tướng sĩ vi phạm những quy đó như phạt quan tướng hiệu không săn sóc luyện tập quân đội, không sữa sang vũ khí, hội quân không đúng kỳ hạn. Phạt binh sĩ tiến lui không theo hiệu lệnh, đào ngũ, làm mât binh khí. Tùy theo tội nặng nhẹ mà phạt theo ngũ hình từ thấp đến cao.

            Luật Dân sự: các điều khoản liên quan đến chế độ ruộng đất, những điều về mua bán cầm cố, thừa kế ruộng đất.

1. Sở hữu và hợp đồng

Chương Điền Sản: có những quy định chung của nhà nước về những vấn đề liên quan tới ruộng đất tư và ruộng đất công. Ruộng đất là một loại bất động sản có giá trị lớn, nên trong bộ Quốc Triều Hình Luật quy định khá cụ thể về việc mua bản ruộng đất. Điều 342 nêu: “ Bán ruộng đất của công cấp hay ruộng đất khẩu phần, thì xử 60 trượng, biếm hai tư.... ”. Điều 344: “ Cấm việc nhận bậy ruộng đất của người khác, từ một mẫu trở xuống thì biếm một tư, 5 mẫu trở xuống thì biếm 2 tư, 10 mẫu trở xuống thì biếm 3 tư, .... lấn địa giới hạn ruộng đất người khác thì biếm 1 tư và phải bồi thường hoa màu”. Những điều lệ trong bộ luật đã tạo điều kiện cho ruộng tư nhân phát triển, như việc quy định ruộng bán dứt không được quyền đòi lại. Luật nghiêm cấm việc lấn chiếm tranh giành ruộng đất tư nhân cũng như ruộng công.
Những điều lệ liên quan tới việc kế thừa tài sản, bộ luật đã phần nào điều hòa được những mâu thuẩn tồn tại trong chế độ tư hữu phong kiến thời Lê. Theo luật thì cha mẹ, vợ chồng, con trai, con gái đều có quyền thừa kế, tùy theo quan hệ mà được chia theo mức độ khác nhau, trong lĩnh vực này bộ luật đã tiếp thu được những điểm tiến bộ trong truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Bộ luật Hồng Đức đã phản ánh hai chế độ sở hữu ruộng đất trong thời kỳ phong kiến là: sở hữu nhà nước (ruộng công) và sở hữu tư nhân (ruộng tư).Trong bộ luật Hồng Đức, do đã có chế độ lộc điền-công điền tương đối toàn diện về vấn đề ruộng đất công nên trong bộ luật này quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất chỉ được thể hiện thành các chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm chế độ sử dụng ruộng đất công như: không được bán ruộng đất công (điều 342), không được chiếm ruộng đất công quá hạn mức(điều 343) không được nhận bậy ruộng đát công đã giao cho người khác(điều 344), cấm làm sai quy định phân cấp ruộng đất công(điều 347), không để bỏ hoang ruộng đất công(điều 350), cấm biến ruộng đất công thành tư(điều 353), không được ẩn lậu để trốn thuế(điều 345)

       Bên cạnh đó việc bảo hộ quyền sở hữu tư nhân/ hợp đồng về ruộng đất tư cũng được quy định rõ ràng. Chẳng hạn, cấm xâm lấn ruộng đất của người khác (điều 357), cấm tá điền tranh ruộng đất của chủ (điều 356), cấm ức hiếp để mua ruộng đất của người khác (điều 355)v.v....

2. Thừa kế

Trong lĩnh vực thừa kế, quan điểm của các nhà làm luật thời lê khá gần gủi với các quan điểm hiện đại về thừa kế. Cụ thể:

  • Khi cha mẹ còn sống, không phát sinh các quan hệ về thừa kế nhằm bảo vệ và duy trì sự trường tồn của gia đình, dòng họ.
  • Thứ 2 là các quan hệ về thừa kế theo di chúc (các điều 354, 388) và thừa kế không di chúc (thừa kế theo luật với các điều 374, 377, 380, 388) điểm đáng chú ý trong bộ luật Hồng Đức là người con gái có quyền thừa kế ngang bằng với người con trai. Đây là một điểm tiến bộ không thể thấy ở các bộ luật phong kiến khác.
  • thứ 3 là bộ luật đã phân định về nguồn gốc tài sản của vợ chồng, gồm có tài sản riêng của mỗi người và tài sản chung của cả hai vợ chồng. Việc phân định này góp phần xác định việc phân chia thừa kế cho các con khi cha mẹ đã chết hoặc chia tài sản cho bên còn sống nếu một trong hai vợ hoặc chồng chết trước. Thừa kế chính là điểm nổi bậc nhất của luật pháp triều Lê.

3. Các quy định hình sự

L

uật hình sự: Chương Danh Lệ đưa ra những nguyên tắc chung áp dụng khi trừng phạt, trong điều 1 đã quy định 5 hình phạt từ đánh roi cho đến tử hình. Điều 2 nêu ra 10 tội ác lớn nhất, trong đó kể tới những tội mưu phản làm nguy hại đến xã tắc, phản nước theo giặc, tội đại bất kính với quan bản, thầy học, với chồng.... Đây là 10 tội nặng nhất trong xã hội thời phong kiến, những vi phạm này làm tổn hại đến tôn ti trật tự xã hội và gia đình được nhà nước phong kiến bảo vệ, đó là quan hệ vua – tôi, cha – con, vợ - chồng.

3.1 Các nguyên tắc chủ đạo

Hình luật là nội dung trọng yếu và có tính chất chủ đạo bao trùm toàn bộ nội dung của bộ luật. Các nguyên tắc hình sự chủ yếu của bộ luật này là:

Luật bất thành hình (điều 642, 683, 685, 708, 722): trong đó quy định chỉ khép tội khi trong bộ luật có quy định, không thêm bớt tội danh, áp dụng đúng hình phạt đã quy định. Luật này tương tự như các bộ luật hình sự hiện đại.

Chiếu cố (điều 1, 3, 5, 8, 10, 16, 17, 680): trong đó quy định các chiếu cố đối với địa vị xã hội, tuổi tác (trẻ em và người già cả), tàn tật, phụ nữ…

Chuộc tội bằng tiền( điều 6, 16, 21, 22, 24): đối với các tội danh như trượng, biếm, đồ, khao đinh, tang thất phụ, lơu, tử, thích chữ. Tuy nhiên các tội thập ác(mười tội cực kỳ nguy hiểm cho chính quyền) và tội đánh roi (có tính chất răn đe, giáo dục) không cho chuộc.

Trách nhiệm hình sự( điều 16, 35, 38, 411, 412): trong đó đề cập tới quy địnhvề tuổi chịu trách nhiệm hình sự và việc chịu trách nhiệm hình sự thay cho người khác.

Miễn giảm trách nhiệm hình sự (điều 18, 19, 450, 499, 533): trong đó quy định về miễn giảm trách nhiệm hình sự trong các trường hợp như tự vệ chính đáng, tình trạng khẩn cấp, thi hành mệnh lệnh, tự thú (trừ thập ác, giết người).

Thưởng người tố giác, trừng phạt người che giấu (điều 25, 39, 411, 504).

4.Vấn đề tội phạm trong Quốc Triều Hình Luật

4.1.Dấu hiệu của tội phạm

© Quốc Triều Hình Luật không có điều luật khẳng định dấu hiệu nội dung của tội phạm. Nhưng các quy định về tội phạm trong bộ luật thể hiện, tội phạm xâm phạm trước hết đến sự an toàn, bất khả xâm phạm của chế độ quân chủ triều Lê, mà trước hết là sự an toàn của nhà vua và hoàng cung, xâm phạm trật tự, kỷ cương, đạo đức xã hội theo quan điểm nho giáo, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, tài sản.... Đó là những hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ khác nhau.

© Dấu hiệu lỗi là dấu hiệu của tội phạm cũng được đặt ra trong bộ luật này. Tuy nhiên vấn đề này trong Quốc Triều Hình Luật được đề cập đến chỉ để phân biệt giữa trường hợp cố ý và trường hợp lầm lỡ để xác định mức độ trách nhiệm hình sự trong áp dụng cũng như việc quy định hình phạt khác nhau ở một số tội phạm cụ thể.

©Ví dụ điều 497 quy định : “ trong khi đánh nhau lỡ đánh lầm phải người xung quanh bị thương hay đến chết, thì xử nhẹ hơn tội đánh chết người một bậc...”

Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của tội phạm:

  • Tính chất quan trọng của đối tượng cần bảo vệ: QTHL cũng đã coi tầm quan trọng của đối tượng cần bảo vệ là một yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Ví dụ điều 116 quy định “ những người tiết lộ những việc đại sự cần giữ bí mật, thì xử tội chém ( đại sự như là việc mưu kín để đánh giặc cùng bắt những kẻ mưu phản ....); không phải việc đại sự cần giữ bí mật, thì xử 70 trượng, biếm ba tư. Tiết lộ những việc bàn trong điện đình cần giữ bí mật, thì xử tội lưu...”
  • Mức độ vi phạm: điều 138 quy định mức xử phạt tội nhận hối lộ đã căn cứ vào mức độ nhận ( mức độ giá trị của hối lộ ). Cụ thể: “ quan ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ từ 1 – 9 quan thì xử tội biếm hay bãi chức, từ 10 – 19 quan thì xử tội đồ hay lưu, từ 20 quan trở lên thì xử tội chém...”
  • Mức độ hậu quả của tội phạm: điều 446 khi quy định tội gây thương tích đã phân biệt nhiều trường hợp với hậu quả thương tích cụ thể khác nhau để có mức xử phạt khác nhau. Cụ thể : “ .... đánh gãy 2 răng, 2 ngón tay trở lên thì xử tội đồ...; đánh gãy chân, tay, mù một mắt, thì phải tội lưu đi châu xa...”.
  • Nội dung lỗi: chủ yếu là xác định xem là phạm tội do lầm lỡ hay cố ý
  • Động cơ phạm tội: điều 485 có quy định: “ ông bà cha mẹ bị người ta đánh, con cháu đánh lại mà không bị què, gãy, bị thương, thì không phải tội; bị thương hay què thì phải tội kém tội đánh người thường ba bậc; đánh chết người thì bị tội nhẹ hơn luật thường một bậc”

4.2.Phân loại tội phạm trong Quốc Triều Hình Luật

            Vấn đề phân loại tội phạm trong QTHL cũng được đặt ra. Trong chương Danh Lệ ( được xem là phần chung của bộ luật ), tội phạm được chia theo ba tiêu chí nhưng đều nhằm cùng mục đích tọa cơ sở pháp lý cho việc phân hóa Trách Nhiệm Dân Sự trong xây dựng các điều luật về tội phạm cụ thể cũng như trong áp dụng luật. Ba cách phân loại đó là:

  1. wCách phân loại thứ nhất: Tội phạm được phân thành 5 loại theo 5 loại hình phạt ( suy, trượng, đồ, lưu và tử ).
  2. wCách phân loại thứ hai: Tội phạm được phân thành 2 loại theo tính chất nghiêm trọng là tội thập ác và tội thường.
  3. wCách phân loại thứ ba: Tội phạm được phân chia thành 2 loại theo lỗi của chủ thể là tội do cố ý và tội do lầm lỡ.
  • Cách phân loại tội phạm thứ nhất: đây là cách phân loại tội phạm theo loại hình phạt được quy định cho tội đó. Và 5 loại hình phạt gắn liền với 5 loại hình phạt cụ thể. Ví dụ: điều 131 quy định: “ ông bà hay cha mẹ và chồng bị tội tử hình còn đang phải giam, mà con cháu hay vợ lại đàn hát thì xử biếm hai tư”.
  • Cách phân loại tội phạm thứ hai: đây thực ra không phải là cách phân loại trực tiếp tội phạm mà chỉ là kết quả gián tiếp của việc liệt kê 10 loại tội được xem là nguy hiểm nhất đối với chế độ quân chủ cũng như đối với trật tự, kỷ cương, đạo đức xã hội. Loại tội thập ác bao gồm 10 nhóm tội khác nhau đó là nhóm mưu phản, mưu đại nghịch, mưu chống đối, ác nghịch, bất đạo, đại bất kính, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa và nhóm nổi loạn. Và không có bất cứ các chế độ miễn giảm trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội thập ác. Ví dụ điều 11 quy định: “ Những kẻ phạm tội ác nghịch thì dẫu có ân xá cũng không được ân xá”
  • Cách phân loại tội phạm thứ ba: QTHL không quy định nội dung của lỗi có ý cũng như lỗi do lầm lỡ, đồng thời cũng không quy định tội cố ý và tội vô ý riêng rẽ khi quy định các tội phạm cụ thể. Nhưng khi quy định nguyên tắc chung thì QTHL lại khẳng định rất rõ quan điểm xử phạt phải phân biệt giữa tội cố ý và tội vô ý.

4.3. Vấn đề đồng phạm, các giai đoạn phạm tội và phòng vệ chính đáng trong Quốc Triều Hình Luật

       Thực chất vấn đề này vẫn chưa được đề cập trong Quốc Triều Hình Luật. Chỉ có một số quy định đề cập tới một số nội dung mà những nội dung đó theo luật hình sự hiện đại thuộc về vấn đề đồng phạm.

Phần Danh Lệ, trong điều luật 35 quy định: “ Những người cùng phạm một tội thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng được giảm một bậc. Nếu tất cả người trong một nhà cùng phạm tội, chỉ bắt tội người tôn trưởng”. Qua đó thì người khởi xướng rõ ràng chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn do tính chất và mức độ tham gia khác người a tòng ( người đồng phạm ).

Điều 469 khi quy định về trường hợp nhiều người đánh người khác bị thương hoặc đánh chết đã đưa ra các khái niệm: thủ phạm, chủ mưu, người tòng phạm. “ Đông mưu đánh người bị thương, thì kẻ nào đánh nhiều đòn nặng là thủ phạm; kẻ chủ mưu cũng phải cùng một tội; còn ngưởi tòng phạm thì được giảm một bậc....”

Vấn đề phòng vệ chính đáng cũng như vấn đề tình thế cấp thiết và các vấn đề tương tự đều chưa được quy định thành chế định riêng một cách hoàn chỉnh trong Quốc Triều Hình Luật. Tuy nhiên, trong bộ luật này cũng đã có những quy định vê trường hợp gây thiệt hại cụ thể mà không phải chịu hình phạt do có tình tiết nhất định. Điều 646 quy định về việc bắt tội phạm có hai điểm thể hiện rõ quan điểm loại trừ trách nhiệm hình sự cho trường hợp phòng vệ chính đáng. Cụ thể: “ Đi bắt tội nhân mà tội nhân chống cự bị người đi bắt đánh chết, hay là vì tội nhân bỏ chạy, đuổi mà đánh chết, hay là tội nhân cùng quẫn quá mà tự sát, thì người đi bắt đều được miễn tội...”

5.Các vấn đề hình phạt trong Quốc Triều Hình Luật

Thập ác: là 10 trọng tội nguy hiểm nhất như:

            Các tội liên quan đến vương quyền: mưu phản, mưu đại nghịch (điều 2, 411), mưu bạn (phản bội tổ quốc-điều 412), đại bất kính (430, 431).

            Các tội liên quan đến quan hệ hôn nhân-gia đình: ác nghịch(416), bất hiếu(475), bất nghĩa, nội loạn.

            Tội liên quan đến tiêu chí đạo đức hàng đầu của Nho Giáo: bất đạo(420, 421).

Các nhóm tội khác: bao gồm các tội liên quan đến sự an toàn thân thể của vua, nghi lễ cung đình, xâm phạm trật tự công cộng, quản lý hành chính, thể thức nghi lễ triều đình, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm con người, các tội xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, các tội phạm quân sự, xâm phạm chế độ sở hữu ruộng đất, xâm phạm chế độ hôn nhân-gia đình, v.v…

6. Hình phạt

Quan niệm về hình phạt trong bộ luật khá chi tiết nhưng cứng nhắc với khung hình phạt thường là cố định, tuy rằng có tính đến các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ(điều41).

Các hình phạt cụ thể có ngũ hình và hình phạt khác.

6.1.Hình phạt Ngũ hình

Ngũ hình được quy định tại điều 1 và bao gồm: Suy, trượng, đồ, lưu, tử. Trong đó:

  • Xuy ( đánh bằng roi ) có 5 bậc:10, 20, 30, 40, 50 roi, có thể kèm phạt tiền và biếm chức, áp dụng cho cả nam và nữ. Phạm nhân sẽ bị đánh bằng roi mây nhỏ vào mông, mục đích áp dụng hình phạt này nhằm làm cho họ cảm thấy đau đớn, xấu hổ từ đó từ bỏ ý định phạm tội lại. Hình phạt này thường áp dụng cho cả nam lẫn nữ, nhưng thường thì áp dụng cho nữ giới.
  • Trượng ( đánh bằng gậy ) cũng có 5 bậc: 60, 70, 80, 90, 100. Trong Quốc Triều Hình Luật, trượng chỉ áp dụng cho nam. Ngoài ra hình phạt này có thể đi chung với các tội lưu, tội đồ và tội biếm.
  • Đồ ( khổ sai )có 3 bậc là:
  1. wDịch đinh kèm 80 trượng cho nam và 50 roi cho nữ. Dịch đinh/dịch phụ có nhiều hạng là:
  • Thuộc đinh: phục dịch ở các viện( dành cho quan chức có tội).
  • Quân đinh: phục dịch ở các sảnh.
  • Khao đinh: phục dịch ở trong trại lính.
  • Xã đinh: phục dịch ở các xã(dành cho thường dân nam có tội).
  • Thứ phụ: phục dịch công việc ở làng(dành cho thường dân nữ có tội).
  • Viên phụ: làm các công việc trong vườn(dành cho vợ các quan chức có tội).
  • Tang thất phụ: phục dịch ở các nơi nuoi tằm, nếu tội nặng
  1. wTượng phường binh(quét dọn chuồng voi kèm 80 trượng và thích 2 chữ vào mặt) cho nam và xuy thất tỳ(nấu cơm nuôi quân kèm 50 roi và thích 2 chữ vào cổ) cho nữ.
  2. wChủng điền binh(lính lao động ở đồn điền của nhà nước kèm 80 trượng và thích vào cổ 4 chữ, phải đeo xiềng) cho nam và thung thất tỳ (xay thóc giã gạo trong kho thóc thuế của nhà nước, kèm 50 roi và thích vào cổ)cho nữ.
  • Lưu tức lưu đày đi nơi xa, có 3 bậc là:
  1. wLưu cận châu, đày đị làm việc nặng ở nghệ an với hình phạt phụ là thích vào mặt 6 chữ, đánh 90 trượng, đeo xiềng dành cho nam và đánh 50 roi cho nữ.
  2. wLưu ngoại châu: lưu đày đến bố chánh, quảng bình. Phụ hình có 90 trượng, thích 8 chữ vào mặt, đeo xiềng 2 vòng dành cho namvaf đánh 50 roi cho nữ.
  3. wLưu viễn châu: đày đi cao bằng, phụ hình gồm 100 trượng, thích 10 chữ vào mặt, đeo xiềng 3 vòng cho nam, đánh 50 roi cho nữ.
  • Tử ( tội chết) có 3 bậc là:
  1. wGiảo (thắt cổ), trảm (chém đầu).
  2. wKhiêu (chém bêu đầu).
  3. wLăng tri ( tùng xẻo) tức xẻo từng miếng thịt rồi mổ bụng, moi ruột cho đến chết, sau đó còn bị cắt rời chân tay và bẻ gãy hết xương.

6.2.Các hình phạt khác

Ngoài ngũ hình, luật Hồng Đức còn áp dụng hình phạt khác như:

ü      Biếm tư (điều 27, 46) bao gồm các bậc từ 1 đến 5 tư nhưng có quy định cho chuộc tội bằng tiền theo điều 22. biếm tư có thể được hiều như một hình thức làm hạ thấp tư cách của người bị phạt. Ngoài ra người bji phạt biếm tư còn phải chịu hình phạt đánh roi(xuy hoặc trượng).

ü      Phạt tiền (26) có 3 bậc: 300-500 quan, 60-200 quan và 5-50 quan. Ngoài ra còn có quy định về tiền bồi thường tang vật(28), tiền đền mạng(29).

ü      Tịch thu tài sản có 2 bậc là tịch thu toàn bộ gia sản(ngặng theo 2 điều 426, 430) và tịch thu một phần tài sản(nhẹ theo điều 88, 523).

ü      Thích chữ vào cổ hoặc mặt: được áp dụng như là hình phạt phụ đối với các tội lưu, đồ, trượng, xuy.

ü      Đeo xiềng là hình phạt được áp dụng kèm theo hình phạt khác thuộc ngũ hình. Đeo xiềng được áp dụng kèm theo lưu, đồ.

ü      Xung vợ con làm nô tỳ. Chỉ áp dụng đối với các tội mưu phản, mưu đại nghịch, mưu bạn trong thập ác(411,412).

7. Các quy định trong hôn nhân-gia đình

Luật hôn nhân và gia đình: bộ Quốc Triều Hình Luật do bị chi phối sâu sắc bởi tư tưởng Nho giáo trong quan niệm hôn nhân và trật tự gia đình của giai cấp phong kiến, nên các điều luật trong các chương Hộ Hôn, chương Thông Gian đã tập trung bảo vệ chế độ gia tộc phụ quyển, đề cao vai trò của người cha, người chồng, con trưởng, vợ cả.

            Bên cạnh tính chất bảo thủ trong các điều luật về hôn nhân và gia đình, bộ luật đã chú ý đến vai trò phụ nữ trong xã hội, bảo vệ quyển lợi cho người phụ nữ. Trong hôn nhân, bộ luật đã đề cao tình nghĩa vợ chồng, không cho phép bội ước sau khi kết hôn, bảo vệ quyền lợi vật chất cũng như tinh thần của người phụ nữ. Điều 308 : “ Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại ( vợ được trình với quan sở tại và xã quan làm chứng ) thì mất vợ. Nếu vợ đã có con, thì cho hạn một năm.... Nếu bỏ vợ mà lại ngăn cản người khác lấy vợ cũ thì phải biếm. ”. Điều luật này đã giúp cho người phụ nữ tự giải phóng mình khi bị chồng bỏ rơi, trong chương này còn có những điều luật cho con gái được hưởng quyền thừa kế cùng con trai, trong trường hợp không có con trai, con gái trưởng được giao đất hương hỏa để thờ bố mẹ, tổ tiên.

            Pháp luật về hôn nhân gia đình trong Quốc Triều Hình Luật có nhiều điểm tiến bộ, phản ánh được tinh thần nhân đạo khá sâu sắc trong các quy định về quyền lợi cá nhân, vai trò của phụ nữ trong hôn nhân, quyền lợi giữa con trai, con gái và con nuôi...

7.1 Hôn nhân

Trong lĩnh vực hôn nhân, bộ luật đã điều chỉnh cá quan hệ như kết hôn, chấm dứt hôn nhân(do chết hoặc ly hôn).

7.1.1 Kết hôn

Trong quan hệ kết hôn, luật quy định các điều kiện để có thể kết hôn là: có sự đồng ý của cha mẹ(314), không được kết hôn giữa những người trong họ hàng thân thích(319), cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ hay chồng(317), cấm kết hôn khi ông bà, cha hay mẹ đang bị giam cầm, tù tội(318). Cấm anh (em) lấy vợ góa của em (anh), trò lấy vợ góa của thầy (điều 324), với một số quy định khác trong các điều 316, 323, 334, 338, 339. Tuy nhiên, luật Hồng Đức không quy định tuổi kết hôn, mặc dù trong Thiên Nam dư hạ tập ( phần lệ Hồng Đức hôn giá) có viết: “ Con trai 18 tuổi, con gái 16 tuổi mới có thể thành hôn”, có lẽ là do đã tồn tại một văn bản khác cùng thời quy định về điều này. Luật Hồng Đức cũng quy định về hình thức và thủ tục kết hôn như đính hôn và thành hôn ( các điều 314, 315, 322). Lưu ý là luật Hồng Đức cho thấy cuộc hôn nhân có giá trị pháp lý từ sau lễ đính hôn. Ví dụ điều 315 quy định: Gả con gái đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không gả nữa thì phải phạt 80 trượng… Còn người con gái phải gả cho người hỏi trước. Tuy nhiên, nếu trong thời gian từ lễ đính hôn cho đến khi thành hôn mà một trong hai bên bị ác tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từ hôn.

7.1.2 Chấm dứt hôn nhân

Luật Hồng Đức quy định các trường hợp chấm dứt hôn nhân là: một trong hai người đã chế, ly hôn.

Về trường hợp chấm dứt hôn nhân do một trong hai người đã chết cần lưu ý là quan hệ hôn nhân chỉ thật sự chấm dứt ngay nếu người chết là vợ, còn nếu là chồng chết thì nó chỉ chấm dứt sau khi mãn tang. Quy định này được đặt ra một cách gián tiếp trong các điều 2 và 320.

Về trường hợp ly hôn có ba nhóm sau:

            Buộc phải ly hôn do hôn nhân đã vi phạm các quy định cấm kết hôn(các điều 317, 318, 323,324,334)

            Ly hôn do lỗi của người vợ: điều 310 quy định người chồng phải ly hôn khi người vợ phạm phải điều nghĩa tuyệt(đoạn tuyệt hết ân nghĩa vợ chồng), dâm đãng, không kính cha mẹ, trộm cắp.

            Ly hôn do lỗi của người chồng: các điều 308/333 quy định người vợ có quyền trình quan xin ly hôn khi: chồng đã bỏ lửng vợ trong 5 tháng không đi lại(có quan xã làm chứng), trừ khi chồng có việc phải đi xa hay nếu con rể lấy điều thị phi mắng nhiếc cha mẹ vợ.

7.2 Quan hệ gia đình

Trong lĩnh vực quan hệ gia đình, bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ như quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thân thuộc khác(vợ cả-vợ lẽ, anh-chị-em, cha mẹ-con nuôi, vai trò người tôn trưởng tức trưởng họ).

            Quan hệ vợ chồng: phong tục tập quán và nho giáo đã điều chỉnh quan hệ vợ chồng.tuy nhiên luật Hồng Đức cũng có các quy định nhằm điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ nhân thân như nghĩa vụ phải chung sống tại một nơi và phải có trách nhiệm với nhau(các điều 321, 308, 309) không được ngược đãi vợ(482), nghĩa vụ chung thủy(401, 405), nghĩa vụ đẻ tang nhau(2,7)

            Quan hệ cha mẹ-con cái: đề cập tới các nghĩa vụ và quyền nhân thân của con cái, bao gồm: nghĩa vụ phải vâng lời và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà (khoản 7 điều2), nghĩa vụ chị tội roi, trượng thay cho ông bà, cha mẹ(38)nghĩa vụ không được kiện cáo ông bà, cha mẹ(511) nghĩa vụ che dấu tội cho ông bà, cha mẹ(9,504), ngoại trừ trường hợp cha mẹ hay ông bà phạm các tội mưu phản, mưu đại nghịch, cha mẹ nuôi giết con hay mẹ đẻ-mẹ kế giết cha thì được phép tố cáo và nghĩa vụ đẻ tang ông bà cha mẹ(2).

            Quan hệ nhân thân khác: đề cập tới quan hệ giữa vợ cả-vợ lẽ(309,481,483,484) và nhà chồng, anh chị em(487,512), nuôi con nuôi (380, 381, 506) và vai trò của người trưởng họ(35). Trong quan hệ vợ cả-vợ lẽ thì ngoài các quy định về các nghĩa vụ của họ đối với chồng thì họ cũng phải tuân thủ trật tự thê thiếp và vợ cả nói chung được ưu tiên hơn. Về quan hệ anh-chị-em thì người anh trưởng có quyền và nghĩa vụ đối với các em, nhất là khi cha mẹ đã chết, đồng thời cũng bảo vệ sự hòa thuận trong gia đình( phạt nặng đánh lộn, kiện cáo nhau). Việc nhận nuôi con nuôi phải được lập thành văn bản và phải đối xử như con đẻcũng như ngược lại, con nuôi phải có nghĩa vụ như con đối với cha mẹ nuôi.

8. Các quy định tố tụng

Luật tố tụng: đây là một lĩnh vực được bộ luật chú trọng qua những quy định chặt chẽ về thủ tục khi giải quyết kiện tụng như việc thụ lý khiếu kiện, thẩm vấn, tra khảo, phân xử. Các điều luật trong chương Đoán Ngục có tác dụng ngăn sự tùy tiện trong xét xử. Với những điều luật trong luật tố tụng đã phần nào đảm bảo sự nghiêm túc, công bằng cho luật pháp nhà Lê.

Trong bộ luật Hồng Đức đã thể hiện một số khái niệm của luật tố tụng hiện đại như:

            Thẩm quyền và trình tự tố tụng của các cấp chính quyền (627)

            Thủ tục tố tụng( phần lớn của hai chương cuối) như đơn kiện, tố cáo(508, 513,698) thủ tục tra khảo(546, 660, 665, 668,714, 716), thủ tục xử án(671, 709) phương pháp xử án(670, 683, 686, 708, 714, 722) thủ tục bắt người( 646, 658, 659, 663, 676, 680, 701-704).

III. So Sánh Với Các Bộ Luật Cùng Thời

Các văn bản luật cùng thời kỳ này:

  • Quốc Triều Hình Luật.
  • Quốc Triều Khám Tụng Điều Lệ.
  • Thiên Nam Dư Hạ Tập.
  • Hồng Đức Thiện Chính Thư.
  • Quốc Triều Thư Khế Thể Thức.
  • Quốc Triều Chính Luật Thiện Chính.
  • Lê Triều Hội Điển.

1.Thiên Nam Dư Hạ Tập.

Năm Hồng Đức thứ 14 ( 1438 ) Lê Thánh Tông sai các quan phụ trách về văn từ là Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận soạn tập sách. Trong sách ghi đủ các chế độ, luật lệ, văn hàn ( cũng như văn thư ) điển lệ, cáo sắc, đại khái phỏng theo lối hộ yếu của các đời Đường, Tống.

Thiên Nam Dự Hạ Tập là 1 bộ sách do sắc dụ ngày 12/11, mùa đơng năm Quí Mão, niên hiệu Hồng Đức thứ 14 ( 12/12/1483 ), vua Lê Thánh Tơng sai các từ thần biên soạn. người biên soạn gồm cĩ Thân Nhân Trung, Quách Đình Bảo, Đỗ Nhuận, Đào Cử, Đàm Văn Lễ soạn theo tinh thần, phương pháp các sách thong điển, hội yếu các đời Đường, Tống. Lúc đầu mới làm xong, đời Hồn Đức, sách gồm có 100 quyển, có bài tựa của Thân Nhân Trung, Lê Thánh Tông đề 4 câu thơ ngũ ngơn trên bài tựa ấy.

2. Quốc Triều Khám Tụng Điều Lệ

Văn bản này còn có một tên gọi khác là Từ Tụng Điều Lệ.

Được ban bố dưới thời chúa Trịnh Sâm ( 1767-1782 ), Thời Lê, kể từ sau thời kỳ thiện chính dưới sự trị vì của Lê Thánh Tông trờ đi đã xảy ra biết bao biến động về chính trị và xã hội, khiến cho trật tự bị đảo lộn, kỷ cương lỏng lẻo. Vì vậy sang đến thế kỷ 18, tầng lớp quan lại đã trở nên vô cùng quan liêu và sa sút, hoành hành bức ép dân chúng thậm tệ. Pháp luật không được thực thi, những sự bất công trong tố tụng ngày 1 gia tăng, dân chúng kêu ca, xã hội rối loạn, tất cả những cái đó đã tích tụ thành ngòi nổ cho hàng loạt những cuộc nổi dậy của nhân dân. Trước tình hình đó các chúa Trịnh đã buộc phải liên tiếp ban hành những lệ lệnh về các thủ tục luật pháp nhằm củng cố hệ thống pháp chế, giảm bớt sức ép của quan lại trong dân chúng để củng cố địa vị của mình. Dưới thời chúa Trịnh Sâm, để có hiệu lực hơn, ông đã cho tập hợp các lệ lệnh đó lại, thêm bớt điều chỉnh, sắp xếp thành 31 chương tùy theo tính chất của từng loại án kiện, cho khắc in và cấp đến từng nha môn.

Quốc triều hình luật

Quốc triều khám tụng điều lệ

Điều 110: những quan thu thuế không theo ngạch đã định mà thu, lại giấu bớt số thuế thì cũng coi như tội giấu đồ vật công; nếu thu thêm thuế để làm của riêng, thì tội cũng bị như thế, lại phải bồi thường gấp đôi số thuế lạm thu để trả lại cho dân.

Trong quy định về lệ kiện tụng các cai quan, mục quan hà lạm:

các quan lạm thu tiền từ 100 quan trở lên thì thu dân binh đình quyển lộc. Từ 60 quan trở lên thì giảm dân binh và quyền lộc.

Mục quan lạm thu đến 60 quan trở lên thì xử tội giống cai quan.....

 

3.Hồng Đức Thiện Chính Thư

Có thể nói sách này được biên soạn vào thời Mạc, khoảng từ năm 1541 đến 1560, nghĩa là vào khoảng các đời Mạc Phúc Hải ( 1541- 1546 ). Mạc Phúc Nguyên ( 1546 – 1561 ). Vậy vì sao nhà Mạc lại sử dụng luật pháp nhà Lê và còn giữ nguyên cả niên hiệu vua Lê như vậy ? Về điều này theo các sử gia nhà Lê cho biết “ vì sợ lòng dân tưởng nhớ đến triều đại cũ có thể sinh biến, Mạc Đăng Dung đã duy trì mọi hệ thống trong tổ chức nhà nước và pháp luật mà không dám thay đổi hay bãi bỏ một điều gì ”. Vả lại trên thực tế, rõ ràng Mạc Đăng Dung không cần thiết và cũng không đủ thời gian để thay đổi hệ thống pháp luật vốn đã khá hoàn chỉnh và rất có lợi cho việc tập trung quyển lực của nhà vua như vậy. Đặc biệt với những luật lệnh giúp điều chỉnh hữu hiệu các vấn đề về tổ chức nhà nước cũng như xã hội được ban hành dưới thời Hồng Đức đã khiến thời kỳ này luôn được xem là một thời kỳ “ thiện chính ”, thì nhà Mạc chẳng có lý do gì để bỏ qua hoặc thay đổi pháp luật của nhà Lê.

Hồng Đức Thiện Chính Thư tuy khơng có giá trị lớn để tìm hiểu đầy đủ về các hoạt động pháp chế trong suốt thời kỳ tồn tại của nhà Lê và nhà Mạc, song các điều luật mà chủ yếu là về luật hộ hôn và điền sản được tập hợp trong nó đã cung cấp một số tư liệu quan trọng về các vấn đề dân luật – một số vấn đề thường được nhấn mạnh như một đặc điểm tiến bộ quan trọng của cổ luật nước ta so với cổ luật Trung Hoa.

Quốc Triều Hình Luật

Hồng Đức Thiện Chính Thư

Điều 33: các quan ty ở trấn ngoài mà lấy đàn bà con gái ở trong hạt mình, thì bị xử phạt 70 trượng, biếm ba tư và bãi chức

Niêu hiệu hồng đức định rõ:

Lấy con gái ở bản hạt mình cai trị làm vợ.

Phóng túng làm càn, đã làm quan phụ mẫu mà trái phép nước, lấy con gái trong bản hạt mình cai trị thật là coi thường luật pháp. Lén lút làm điều bất thiện, không công minh đâu có thể trị dân trị nước, theo luật phạt trượng bãi chức, quốc triều không tha.

 

Giống như các bộ luật phong kiến khác, luật Hồng Đức thể hiện rõ bản chất giai cấp của nó. Mục tiêu hàng đầu của nó là bảo vệ vương quyền, địa vị và quyền lợi của giai cấp phong kiến, củn cố trật tự xã hội và gia đình gia trưởng phong kiến. Nó là sự pháp điển hóa tư tưởng chính trị và đạo đức nho giáo. Tuy vậy, không thể phủ nhận các điểm đặc sắc và tiến bộ của nó.

4.luật trung hoa

Luật Hồng Đức tiếp thụ nhiều thành tựu lập pháp của Trung Hoa, chịu ảnh hưởng của luật pháp nhà Đường, nhà Minh. Tuy vậy bộ luật này có những điểm không giống với các bộ luật của nhà nước phong kiến Trung Quốc cả về nội dung lẫn bố cục.

Về bố cục, bộ Đường luật có 500 điều chia thành 12 chương( danh lệ, vệ cấm, chức chế, hộ hôn, khai khố, thiện hưng, đạo tặc, đấu tụng, trá ngụy, tạp luật, bộ vong, đoán ngục)trong 30 quyển. Còn bộ luật Hồng Đức có 722 điều, có 13 chương(danh lệ, vệ cấm, vi chế, quân chính, hộ hôn, điền sản, thông gian, đạo tặc, đấu tụng, trá ngụy, tạp luật, bộ vong, đoán ngục) ghi chép trong 6 quyển. Trong bộ luật Hồng Đức các quy định về các nhóm tội tình dục và các vấn đề ruộng đất được quy định riêng biệt và cụ thể hơn.

Về nội dung, các quy định về hôn nhân gia đình, điền sản của luật Hồng Đức được chú trọng hơn so với Đường luật(quy định cụ thể về văn tự, chúc thư, chế độ và phương thức chia thừa kế, tài sản của vợ chồng khi góa bụa..). chính vì thế, sau này các tòa án thời Pháp thuộc hay tòa thượng thẩm Sài Gòn thời Việt Nam Cộng Hòa hay dựa trên các quy định này của bộ luật Hồng Đức để phân xử các vụ kiện tụng liên quan đến tài sản vợ chồng.

5.bộ luật nhà nguyễn

So với bộ hoàng việt luật lệ(còn gọi là bộ luật gia long (1811))ra đời sau hàng thế kỷ, luật Hồng Đức chưa có tính khái quát hóa cao và phân ngành rõ như Hoàng Việt luật lệ. Tuy nhiên, sự bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong luật Hồng Đức lại tốt hơn. Như giáo sư Vũ Văn Mẫu đã viết: “bao nhiêu sự tân kỳ mới lạ trong bộ luật triều Lê đã không còn lưu lại một chút đáu tích nào trong Luật nhà Nguyễn. Không còn những điều khoản liên quan đến hương hỏa, đến chúc thư, đến các điều kiện về giá thú, đén chế độ tài sản của vợ chồng.

IV.Các điểm tiến bộ

Điểm tiến bộ trong luật Hồng Đức là cho thấy vai trò của người phụ nữ được đề cao hơn rất nhiều so với bộ luật đương thời trong khu vực. Người vợ có quyền quản lý tài sản của gia đình (khi chồng chết) và họ có quyền thừa kế như nam giới.

Điểm thứ hai, là hình phạt cho phạm nhân nữ bao giờ cũng thấp hơn so với phạm nhân nam.

Điểm thứ ba, nó thể hiện chính sách trọng nông của triều Lê. Bộ luật trừng phạt rất nặng các tội phá hoại đê điều(596), chặt phá cây cối và lúa má của người khác(601), tiện giết trâu ngựa(580).

Điểm thứ tư, luật Hồng Đức thể hiện sự quan tâm và bảo vệ dân thường. Trong bộ luật có nhiều điều trừng phạt nghiêm khắc những người quyền quý ức hiếp, nhũng nhiễu thường dân(294, 300, 302, 304, 365).

Quốc triều hình luật là bộ luật có những thành tựu to lớn, có những nét riêng biệt, thể hiện đọc đáo bản sắc dân tộc và tính độc lập của một quốc gia có chủ quyền. Đây là bộ luật đã khẳng định được giá trị và vị thế của mình trong lịch sử hệ thống pháp luật của dân tộc và trên thế giới bởi những giá trị tiến bộ vủa nó vượt thời đại bấy giờ, và mang tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc của người việt. Những giá trị trong Quốc Triều Hình Luật thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, bao trùm lên tất cả các lĩnh vực kinh tế và xã hội.

 


Gửi bình luận của bạn:

Các bài cùng chủ đề

Các tin khác

Xem bài trước Xem bài theo tháng» Xem bài sau