Thứ bảy, ngày 25/10/2014

Danh mục

Trang địa phương

sbn1

sbn2

sbn3

sbn4

Liên kết ngoài

Zy

sopy

sy

Quản lý án hình sự

x

Cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 và không nên áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS đối với Vũ Văn D

07:24 | 11/10/2012

      Trên Tạp chí Kiểm sát số 05 (tháng 3/2012) của tác giả Nguyễn Tác Quế, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình trao đổi về vấn đề có áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 46 và tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS đối với Vũ Văn D hay không? Tôi xin nêu ý kiến của mình như sau:


      Theo tôi, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS đối với Vũ Văn D. Bởi lẽ, hướng dẫn tại Mục 2 Nghị quyết số 01/2001/NQ-HDTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC chỉ hướng dẫn áp dụng cho điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS năm 1999 tức là giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên. Và trong trường hợp người phạm tội phải bị xử phạt tử hình thì có thể xem xét tình tiết giảm nhẹ "tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả" nếu bồi thường ít nhất 1/3 giá trị tài sản bị chiếm đoạt trở lên để không xử phạt tử hình. Tùy vào số tiền đã khắc phục để xử phạt chung thân hoặc tù có thời hạn (có thể hiểu là bồi thường được nhiều thì mức hình phạt càng giảm). Còn trong trường hợp của Vũ Văn D, với tổng số tiền chiếm đoạt là 228 triệu đồng thì D bị truy tố theo khoản 3 Điều 139 BLHS mà không phải khoản 4 Điều 139 BLHS nên không xem xét áp dụng Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001. Trong vụ án này, mặc dù số tiền gia đình bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả chỉ là 10 triệu đồng thì vẫn phải coi là bồi thường để khắc phục hậu quả. Tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS phản ánh thái độ ăn năn hối cải của người phạm tội đối với hành vi phạm tội của mình. Không thể căn cứ vào tài sản của gia đình D như: Nhà cửa vẫn còn mà chỉ nộp 10 triệu đồng để không áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS là không đúng. Số tiền nộp để khắc phục hậu quả nhiều hay ít chỉ để làm căn cứ khi quyết định hình phạt. Nếu khắc phục hậu quả được nhiều thì mức hình phạt sẽ ít hơn so với khắc phục hậu quả được ít.


      Còn đối với việc áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS thì không nên áp dụng, bởi vì: D đã bị truy tố ở khoản 3 Điều 139 BLHS với tổng số tiền D chiếm đoạt 21 lần của 21 người là 228 triệu đồng; đây là làm tình tiết định khung hình phạt. Nếu áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS thì tình tiết chiếm đoạt 21 lần với tổng số tiền là 228 triệu đồng đã được áp dụng hai lần; vừa là tình tiết định khung hình phạt vừa là tình tiết tăng nặng. Mà theo quy định tại khoản 2 Điều 48 BLHS thì những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng. Do vậy, việc áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS là không đúng, không có lợi cho bị cáo theo chính sách nhân đạo của Nhà nước.


     Tóm lại, theo ý kiến của cá nhân tôi cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 và không áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS đối với Vũ Văn D.

Nguyễn Thị Thu Trang

VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh


Gửi bình luận của bạn:

Các bài cùng chủ đề

Các tin mới
Các tin khác

Xem bài trước Xem bài theo tháng» Xem bài sau