Chẳng hạn, Điều 20 Pháp lệnh chừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 quy định trường hợp giảm nhẹ hay miễn hình phạt: “Có âm mưu phạm tội, nhưng đã tự nguyện không thực hiện tội phạm...”; Đến Bộ luật hình sự năm 1985, vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đã được ghi nhận chính thức tại Điều 16 của Bộ luật này. Và trong quá trình áp dụng đã được Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung để áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự trong Nghị quyết số 02 ngày 05/01/1986 hướng dẫn về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người thực hành tội phạm và Nghị quyết số 01 ngày 19/04/1989 hướng dẫn về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong những trường hợp có đồng phạm. Đến nay, Bộ luật hình sự năm 2015, chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được quy định tại Điều 16 BLHS và về cơ bản nó không có gì thay đổi so với Bộ luật hình sự năm 1985 và năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.

Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: "Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản". Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm,; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này".

Với quy định nêu trên, chỉ được thừa nhận là tự ý nửa chừng chấm dứt việc việc phạm tội khi thoả mãn những điều kiện sau đây: Thứ nhất: Điều kiện khách quan là không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản. Điều kiện này đòi hỏi người phạm tội đang còn điều kiện thực hiện tội phạm như công cụ, phương tiện phạm tội có hiệu nghiệm, người phạm tội không bị phát hiện hoặc điều kiện thuận lợi khác để thực hiện tội phạm trót lọt. Việc chấm dứt tội phạm xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, chưa hoàn thành. Có nghĩa là, người phạm tội mới tìm công cụ, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc chưa thực hiện hết các hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm, do vậy hậu quả của tội phạm chưa xảy ra cho xã hội. Lúc này, người phạm tội không thực hiện tội phạm nữa, là điều kiện tiên quyết của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Thứ hai: Điều kiện chủ quan là người phạm tội phải chấm dứt việc phạm tội một cách tự nguyện và dứt khoát, triệt để. Sự chấm dứt hành vi phạm tội dứt khoát thể hiện ở việc từ bỏ hẳn, chấm dứt hẳn tội phạm. Trường hợp người phạm tội chỉ chấm dứt tạm thời, chờ thời cơ thuận lợi lại tiếp tục phạm tội không được coi là dứt khoát. Người phạm tội phải tự mình chấm dứt hành vi phạm tội, việc chấm dứt hoàn toàn tự nguyện, tự giác chứ không phải vì lý do bị ngăn cản. Pháp luật không quy định nguyên nhân dân đến chấm dứt tội phạm, do vậy người phạm tội có thể chấm dứt hành vi phạm tội bởi bất kỳ nguyên nhân nào như thương người bị hại, sợ trừng phạt, hối hận....

Trong thực tiễn, tội phạm có thể chỉ do một người thực hiện nhưng cũng có thể do nhiều người cùng gây ra. Khi có nhiều người cố ý cùng thực hiện tội phạm thì được gọi là đồng phạm.

Theo quy định tại Điều 17 BLHS năm 2015 “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện tội phạm”. Dựa vào vai trò của từng người phạm tội trong vụ đồng phạm, tại Điều 17 BLHS chia đồng phạm làm bốn loại người gồm: người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức. Mỗi loại người đều có thể tham gia vào vụ đồng phạm ở những thời điểm và với mức độ khác nhau, có những hành vi khác nhau, mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau, giữ vai trò khác nhau trong vụ đồng phạm. Trong đó, người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm; Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm; Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm; Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

Vấn đề đặt ra có ý nghĩa thực tiễn là trong vụ án có đồng phạm, điều kiện của tự nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có gì khác so với điều kiện của sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong trường hợp tội phạm do một người thực hiện.

Đồng phạm là trường hợp phạm tội phức tạp có nhiều chủ thể tham gia và giữ các vị trí khác nhau trong một vụ phạm tội. Khi xác định TNHS cho họ cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Đó là các nguyên tắc tất cả những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm, nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện đồng phạm và nguyên tắc cá thể hóa TNHS của người đồng phạm. Do đó, việc xác định điều kiện tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong trường hợp này có nhiều điểm khác so với trường hợp phạm tội riêng lẻ. Theo Điều 16 BLHS năm 2015 mới chỉ quy định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người trực tiếp thực hiện tội phạm, chưa có quy định tự ý nửa chừng trong đồng phạm. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm mới chỉ được ghi nhận trong hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 02/HTTP ngày 05/01/1986 và Nghị quyết số 01/HTTP ngày 19/04/1989.

Trong vụ án có đồng phạm, khi có sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của một người hay một số người thì việc miễn TNHS chỉ được áp dụng đối với bản thân người đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Đối với người thực hành trong vụ án có đồng phạm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải được xem xét qua hai trường hợp: có một người thực hành hay có hai người đồng thực hành trở lên. Trường hợp đồng phạm có một người thực hành tự ý nửa chừng chấm việc phạm tội khi thỏa mãn các điều kiện như vụ án riêng lẻ đó là: Phải tự nguyện từ bỏ việc thực hiện tiếp tội phạm khi không có gì ngăn cản; Việc từ bỏ đó phải là từ bỏ hẳn chứ không phải là tạm dừng chờ cơ hội thuận lợi sẽ tiếp tục thực hiện tội phạm; Việc chấm dứt thực hiện tội phạm phải xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành. Trong trường hợp đồng phạm có hai người thực hành trở lên thì có thể xảy ra một người hoặc một số người thực hành tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, còn những người đồng thực hành khác vẫn tiếp tục thực hiện tội phạm. Việc xác định thời điểm coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải căn cứ vào hành vi thực tế của mỗi người đồng phạm vì hành vi phạm tội của từng người có quan hệ mật thiết với nhau nên tổng hợp hành vi phạm tội của tất cả những người đồng phạm đã thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu của một CTTP cụ thể thì vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không được đặt ra. Trong số những người đồng thực hành, nếu có một hoặc một số người thôi không thực hiện tội phạm nữa thì cũng được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội và được miễn TNHS theo Điều 16 BLHS nếu họ đã không làm gì hoặc những việc mà họ đã làm trước khi từ bỏ ý định phạm tội không giúp gì cho những người đồng phạm khác trong việc tiếp tục thực hiện tội phạm. Còn nếu những việc mà họ đã làm được những người đồng phạm khác sử dụng để thực hiện tội phạm, thì họ cũng phải có những hành động tích cực để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm đó, thì họ mới có thể được miễn TNHS. Nhưng nếu họ không ngăn chặn được những người đồng phạm khác thực hiện tội phạm, hậu quả của tội phạm vẫn xảy ra thì họ vẫn phải chịu TNHS. (quy định tại mục I.2- Nghị quyết HĐTP số 01/1989)

Đối với hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức. Đây là những người gián tiếp thực hiện tội phạm nên điều kiện để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có nhiều điểm khác so với người trực tiếp thực hiện tội phạm. Theo mục I.1-Nghị quyết HĐTP số 01/ 1989 thì để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức phải thỏa mãn các điều kiện sau ngoài các điều kiện tại Điều 16 BLHS: Người xúi giục, người tổ chức phải thuyết phục, khuyên bảo, đe dọa để người thực hành không thực hiện tội phạm hoặc phải báo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, báo cho người sẽ là nạn nhân biết về tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện để cơ quan Nhà nước hoặc người sẽ là nạn nhân có biện pháp ngăn chặn tội phạm. Người giúp sức phải chấm dứt việc tạo những điều kiện tinh thần, vật chất cho việc thực hiện tội phạm (như không cung cấp phương tiện, công cụ phạm tội; không chỉ điểm, dẫn đường cho kể thực hành…). Nếu sự giúp sức của người giúp sức đang được những người đồng phạm khác sử dụng để thực hiện tội phạm, thì người giúp sức cũng phải có những hành động tích cực như đã nêu ở trên đối với người xúi giục, người tổ chức để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm. Đối với người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức thì vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có nhiều điểm khác so với người thực hành, quá trình thực hiện tội phạm họ không tự mình mà phải thông qua người thực hành để thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP. Hành vi của những người này luôn là tiền đề, là điều kiện hỗ trợ cho hoạt động phạm tội của người thực hành. Những người này có thể từ bỏ ý định phạm tội trong khi người thực hành vẫn thực hiện tội phạm đến cùng theo kế hoạch đã vạch ra. Chính vì thế, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức chỉ được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi thỏa mãn hai điều kiện: Thứ nhất, họ phải chấm dứt việc phạm tội trước và trong khi người thực hành thực hiện tội phạm; Thứ hai, họ phải có những hành động tích cực làm mất tác dụng của những hành vi trước đó của mình để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm.

Ví dụ: Khoảng 20h ngày 27/07/2016, Minh đang lái xe chở Thế và Kiên đi chơi thì Thế rủ Minh và Kiên đi vào khu KTX sinh viên trộm cắp tài sản, Minh và Kiên đều đồng ý rồi Minh lái xe chở Thế và Kiên đi vào khu KTX. Tại đây, Kiên đứng dưới sân trông xe còn Minh và Thế đi lên các tầng ở KTX xem có ai sở hở thì trộm cắp. Do không thấy ai sơ hở nên Minh đã đi xuống dưới sân cùng Kiên trông xe và đợi Thế trộm cắp tài sản. Đợi được một lúc thì trời mưa nên Minh và Kiên đi ra ngoài cổng KTX trú mưa và tiếp tục đợi Thế. Sau đó, Kiên điện thoại cho Thế xem tình hình trộm cắp thế nào nhưng Thế không nghe máy nên Kiên và Minh đi ăn đêm và đi về nhà Minh ngủ. Đến khoảng 2h ngày hôm sau khi Thế trộm cắp được 02 chiếc máy tính xách tay trong KTX đi ra ngoài thì Thế đã điện thoại cho Minh đến đón Thế nhưng do Minh ngủ say không biết Thế gọi nên Kiên đã nghe máy và đi xe đến đón Thế đi về phòng trọ của Thế. Trên đường đi thì Kiên biết Thế đã trộm cắp được 02 chiếc máy tính. Khi Kiên quay lại nhà Minh thì Kiên lại nói cho Minh biết việc Thế đã trộm cắp được 02 chiế máy tính. Sau đó, Thế đã bán tài sản trộm cắp và một mình ăn tiêu hết còn Minh và Kiên không được Thế cho hưởng lợi gì. (Thế, Minh và Kiên đều là người trên 18 tuổi; 02 chiếc máy tính trị giá 15 triệu đồng). Cơ quan điều tra đã khởi tố Thế về tội Trộm cắp tài sản.

Đối với hành vi của Minh và Kiên nêu trên có được coi là đồng phạm với Thế về tội Trộm cắp tài sản hay không?

Có quan điểm cho rằng Minh và Kiên không đồng phạm với Thế về tội Trộm cắp tài sản vì Minh và Kiên không phải là người thực hiện tội phạm và cũng không thực hiện đến cùng, đã tự ý bỏ đi về trước. Có quan điểm cho rằng Minh và Kiên đồng phạm với Thế nhưng được coi là Tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm.

Tuy nhiên, quan điểm của cá nhân tôi cho rằng: Cả Minh và Kiên đều đồng phạm với Thế về tội Trộm cắp tài sản và đều không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, bởi lẽ:

Thứ nhất: Khi Thế rủ đi vào KTX sinh viên trộm cắp tài sản thì Minh và Kiên đều đồng ý đi cùng. Minh là người lái xe, Kiên là người trông xe để cho Thế thực hiện hành vi trộm cắp tại KTX sinh viên. Như vậy, Minh và Kiên là người đã tạo điều kiện thuận lợi để Thế thực hiện hành vi trộm cắp tại nơi mà 03 người đã bàn bạc, thống nhất từ trước (KTX) và trong khoảng thời gian liên tục nên Minh và Kiên đều đồng phạm với Thế về tội Trộm cắp tài sản với vai trò giúp sức.

Thứ hai: Minh và Kiên đều thôi không thực hiện hành vi trộm cắp với Thế khi tội phạm đang ở giai đoạn chưa đạt, chưa hoàn thành nhưng việc Minh và Kiên thôi không thực hiện tội phạm không phải là do sự tự nguyện và dứt khoát vì Minh và Kiên bỏ đi về nhà là do trời mưa và khi về nhà vẫn còn tiếp tục nghe điện thoại của Thế và đi xe đến đón Thế đi về - đây là nguyên nhân khách quan chứ không phải là sự tự nguyện và chấm dứt hoàn toàn.

Thứ ba: Trước khi và sau khi bỏ đi về thì Minh và Kiên không có bất cứ hành động ngăn chặn nào như báo Công an, Chính quyền địa phương, ban quản lý KTX hoặc người bị hại.....để không cho Thế thực hiện được hành vi trộm cắp.

Vì vậy, khi xem xét một vụ án có vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, chúng ta cần đánh giá toàn bộ vụ án, căn cứ vào những điều kiện về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội để xét người thực hiện có phải là tự ý thật sự hay không. Đối với vụ án có đồng phạm, những người không phải là người thực hành thì ngoài những điều kiện chung, bản thân họ còn phải thỏa mãn hai điều kiện riêng đó là họ phải chấm dứt việc phạm tội trước và trong khi người thực hành thực hiện tội phạm và họ phải có những hành động tích cực làm mất tác dụng của những hành vi trước đó của mình để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm thì họ mới được xem xét và công nhận là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội và được miễn TNHS.

 

 

Nguyễn Toán Cường VKSND TP Bắc Ninh