Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên là những người tiến hành tố tụng thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự mà cụ thể là kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án), người tiến hành tố tụng (Chánh án Tòa án, Thẩm phán Tòa án, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án); đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) và những người tham gia tố tụng khác (người làm chứng, người phiên dịch, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự…..); thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án dân sự được kịp thời, khách quan, đúng pháp luật.

Để hình thành kỹ năng nghiệp vụ, Kiểm sát viên được phân công phải căn cứ vào chức năng nhiệm vụ, quyền hạn đã được pháp luật quy định và căn cứ vào mục tiêu kiểm sát giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là bảo đảm cho vụ án được giải quyết kịp thời đúng pháp luật. Kiểm sát viên chỉ tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm trong các vụ án thuộc trường hợp quy định tại Điều 21 BLTTDS. Hoạt động kiểm sát của Kiểm sát viên tại phiên tòa là một trong ba giai đoạn nằm trong kỹ năng kiểm sát giải quyết vụ, việc dân sự.

Hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự bao gồm 2 nhiệm vụ chính sau đây:

- Kiểm sát việc thực hiện thủ tục phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi Hội đồng xét xử tuyên án hoặc ra quyết định giải quyết vụ án ( quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án);

- Tham gia hỏi đương sự và những người tham gia tố tụng khác nhận xét kết quả giám định, nếu cần thì yêu cầu Hội đồng xét xử công bố tài liệu, nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng đĩa hình xem vật chứng và phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án.

1. Về kiểm sát việc thực hiện thủ tục tại phiên tòa:

Kiểm sát viên được phân công phải có mặt tại phòng xử án theo đúng thời gian trong giấy báo của Tòa án để kiểm sát thủ tục khai mạc phiên tòa.

Khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án và chủ tọa phiên tòa tiến hành các thủ tục khai mạc phiên tòa thì Kiểm sát viên cần chú ý theo dõi xem chủ tọa phiên tòa có tiến hành đúng và đầy đủ thủ tục các nội dung quy định tại Điều 239 BLTTDS hay không. Cụ thể:

 - Kiểm sát thủ tục bắt đầu phiên tòa xét xử sơ thẩm:

+ Theo dõi việc khai mạc và công bố quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 239 BLTTDS;

+ Theo dõi việc thư ký Tòa án báo cáo với HĐXX về sự có mặt, sự vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của tòa án và lý do vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 239 BLTTDS;

- Sau khi nghe Thư ký phiên tòa báo cáo, chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự, người tham gia tố tụng khác theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 239 BLTTDS

Khi chủ tọa phiên tòa kiểm tra sự có mặt và căn cước của đương sự, người tham gia tố tụng, thì Kiểm sát viên cũng cần theo dõi và đối chiếu lại với danh sách kiểm tra sự có mặt của đương sự, người tham gia tố tụng khác. Trong trường hợp có người tham gia tố tụng trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì Kiểm sát viên phải đối chiếu với quy định của BLTTDS về việc hoãn phiên tòa. Nếu thấy có căn cứ để hoãn phiên tòa thì kiểm sát viên phải đề nghị Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.

+ Kiểm sát thành phần HĐXX và thư ký Tòa án có đúng với thành phần HĐXX mà Tòa án đã chỉ định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hay không, xem có ai trong số họ bị đương sự đề nghị thay đổi hoặc thuộc vào những trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi theo quy định tại các Điều 52, 53 và 54 BLTTDS;

+ Theo dõi việc giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; việc xem xét quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt; việc đảm bảo tính khách quan của người làm chứng theo quy định tại các Điều 240, 241 và Điều 242 BLTTDS.

+ Tiếp theo kiểm sát viên phải theo dõi Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụ của đương sự và của người tham gia tố tụng khác:

Thực tiễn xét xử cho thấy, đây là thủ tục mà rất nhiều các thẩm phán bỏ qua hoặc tóm tắt, lược bỏ bớt các nội dung về quyền và nghĩa vụ của đương sự cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khiến các đương sự và người tham gia tố tụng khác không nắm bắt được những quyền mà pháp luật cho phép mình thực hiện, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ. Trong trường hợp phát hiện ra Chủ tọa phiên tòa phổ biến thiếu quyền, nghĩa vụ của đương sự và của người tham gia tố tụng khác thì Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cần đề nghị Chủ tọa phiên tòa phổ biến bổ sung phần còn thiếu theo đúng quy định của BLTTDS.

Sau khi đề nghị, kiểm sát viên cần phải theo dõi việc giải quyết yêu cầu hoãn phiên tòa, thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch và các trường hợp khác mà kiểm sát viên yêu cầu Hội đồng xét xử. Nếu trường hợp Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của kiểm sát viên thì kiểm sát viên vẫn phải tiến hành tham gia phiên tòa và phát biểu quan điểm của kiểm sát viên về phần thủ tục tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng khác. Ngay sau khi kết thúc phiên tòa thì kiểm sát viên báo cáo với Viện trưởng Viện kiểm sát để xem xét có kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hay không.

Tuy nhiên, Kiểm sát viên chỉ được phát biểu khi Hội đồng xét xử yêu cầu Kiểm sát viên phát biểu về phần thủ tục tại phần khai mạc phiên tòa chứ kiểm sát viên không được tự ý phát biểu khi chưa được Hội đồng xét xử yêu cầu.

Trong quá trình Hội đồng xét xử hỏi về phần thủ tục tố tụng tại phần bắt đầu phiên tòa như hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu theo quy định tại Điều 243 BLTTDS như: Hỏi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện hay không; Hỏi bị đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố hay không; Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc lập hay không. Hoặc đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 246 BLTTDS không? Nếu có việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu hoặc đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Kiểm sát viên cần phải theo dõi và ghi chép đầy đủ các yêu cầu của họ để đối chiếu, so sánh xem yêu cầu của họ có phù hợp với các quy định của pháp luật hay không phát biểu về đường lối giải quyết vụ án về mặt nội dung cho phù hợp.

2. Về thực hiện các quyền yêu cầu, tham gia hỏi và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, tuyên án.

2.1. Kỹ năng xét hỏi và thực hiện quyền yêu cầu

Để việc kiểm sát tại phiên tòa được hiệu quả, trong suốt quá trình xét xử, Kiểm sát viên cần phải chú trọng việc ghi chép đầy đủ toàn bộ diễn biến tại phiên tòa : Các câu hỏi của hội đồng xét xử và của các đương sự cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tại phiên tòa. Việc ghi chép giúp Kiểm sát viên có thể bao quát được toàn bộ diễn biến phiên tòa nhằm phát hiện những vấn đề mẫu chốt, quan trọng của vụ án mà đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ cũng như hội đồng xét xử chưa hỏi và làm rõ.

Việc hỏi của Kiểm sát viên phải tuân theo một trật tự mà BLTTDS quy định đó là tại phiên tòa, Kiểm sát viên có quyền hỏi các đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác. Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 BLTTDS năm 2015.

Theo thứ tự hỏi được quy định tại điều luật này thì Kiểm sát viên là người hỏi sau cùng. Do đó Kiểm sát viên phải hết sức tránh việc đặt câu hỏi khi đương sự hoặc hội đồng xét xử đang tiến hành hỏi. Thực tế xét xử nhiều trường hợp Kiểm sát viên đặt câu hỏi đối với đương sự khi chưa được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa dẫn đến việc hỏi tại phiên tòa không tuân theo một trật tự mà BLTTDS quy định, làm ảnh hưởng đến kết quả việc hỏi của đương sự hoặc hội đồng xét xử. 

BLTTDS quy định Kiểm sát viên tham gia hỏi sau cùng nhằm đề cao vai trò tranh tụng của các bên đương sự trong vụ án. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cần phải tập trung lắng nghe, ghi chép những câu hỏi đã được hỏi tại phiên tòa để tránh đặt câu hỏi trùng lặp với các câu hỏi mà đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc Hội đồng xét xử hoặc những người tham gia tố tụng khác đã hỏi.

Kỹ năng đặt câu hỏi của Kiểm sát viên phải tùy thuộc vào diễn biến tại phiên tòa. Trong trường hợp trước đó đương sự hay Hội đồng xét xử đã đưa ra những câu hỏi nhưng đương sự chưa trả lời rõ ràng thì Kiểm sát viên mới cần hỏi lại để làm sáng tỏ vấn đề.

Khi đặt câu hỏi Kiểm sát viên phải hỏi rõ ràng, có thái độ nghiêm túc, việc đặt câu hỏi phải ngắn gọn, dễ hiểu không đặt câu hỏi dài dòng làm cho người bị hỏi khó trả lời và không được lợi dụng việc hỏi và việc trả lời để xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.

Khi người được hỏi trả lời câu hỏi Kiểm sát viên cần phải chú ý lắng nghe hết ý kiến mà người được hỏi trả lời không được cắt ngang. Tuy nhiên, nếu đương sự trả lời  không đúng trọng tâm câu hỏi thì kiểm sát viên có quyền yêu cầu họ trả lời vào đúng trọng tâm câu hỏi. Nếu đương sự trả lời không đầy đủ thì Kiểm sát viên yêu cầu đương sự trả lời bổ sung, hoặc đặt câu hỏi khác để làm rõ vấn đề.

Ngoài ra trong quá trình hỏi, nếu xét thấy có sự mâu thuẫn với các tài liệu, chứng cứ của vụ án cần phải công bố theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 254 BLTTDS thì Kiểm sát viên yêu cầu Hội đồng xét xử công bố tài liệu của vụ án hoặc yêu cầu Hội đồng xét xử cho nghe băng, đĩa ghi âm, xem băng đĩa ghi hình tại phiên tòa theo quy định tại Điều 255 BLTTDS.

Trong trường hợp kết luận giám định còn có những vần đề chưa rõ hoặc còn mâu thuẫn với các tình tiết khác của vụ án thì Kiểm sát viên có quyền nhận xét về kết luận giám định đó theo quy định tại khoản 2 Điều 257 BLTTDS.

Khi Kiểm sát viên không đặt câu hỏi gì thêm thì phát biểu công khai tại phiên tòa là đã hỏi xong để chủ tọa phiên tòa tiếp tục điều khiển phần tranh luận tại phiên tòa.

Đối với những trường hợp phải trở lại việc hỏi và tranh luận theo quy định tại Điều 265 BLTTDS. Kiểm sát viên tiến hành kiểm sát việc hỏi và sửa đổi bổ sung quan điểm giải quyết vụ án cho phù hợp trước khi HĐXX vào nghị án và ra tuyên án.

2.2 Kiểm sát việc tranh luận tại phiên tòa:

Phần tranh luận tại phiên tòa được diễn ra dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa. Kiểm sát viên không tham gia vào phần tranh luận của đương sự vì Kiểm sát viên không phải là một bên tranh luận mà đối tượng tranh luận tại phiên tòa là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Song, Kiểm sát viên cần phải chú ý lắng nghe sự tranh luận của các bên tranh chấp trong vụ án để tìm ra sự thực khách quan, các tình tiết, chứng cứ mà các bên đưa ra để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp tạo điều kiện cho Kiểm sát viên có cơ sở phân tích đánh giá khi phát biểu quan điểm giải quyết vụ án về mặt nội dung.

2.3. Kỹ năng phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về các nội dung chính sau:

- Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng có thể đồng thời là chủ tọa phiên tòa hoặc không phải là chủ tọa phiên tòa . Song trong phát biểu Kiểm sát viên cần phải nêu rõ việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán khi tiến hành thụ lý vụ án về thẩm quyền, các thủ tục tố tụng như: xác định tư cách đương sự, quan hệ phát sinh tranh chấp, xác minh thu thập chứng cứ, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời ( nếu có), các thủ tục về mở phiên họp và hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, các thủ tục triệu tập đương sự, quyết định đưa vụ án ra xét xử...của Thẩm phán có đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hay không?

Việc tiến hành điều khiển phiên tòa của hội đồng xét xử có đúng thủ tục không?  những kiến nghị, yêu cầu của Kiểm sát viên Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã được Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã giải quyết chưa, giải quyết có đúng quy định  của pháp luật hay không?

Thư ký phiên tòa có tuân thủ đúng chức năng, nhiệm vụ của mình tại phiên tòa hay không…

Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân thủ pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án có đúng pháp luật hay không? Có tuân theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa hay không? Thái độ và hành vi của họ tại phiên tòa như thế nào?

- Phát biểu về việc giải quyết vụ án: Theo quy định của BLTTDS năm 2011 thì  Kiểm sát viên tham gia phiên tòa không phải phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án . Nhưng BLTTDS 2015 có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 đã quy định khi tham gia phiên tòa sơ thẩm ngoài việc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng, Kiểm sát viên còn phải phát biểu về mặt nội dung của vụ án hay nói cách khác là phát biểu về đường lối giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn yêu cầu của người có yêu cầu độc lập (nếu có) .

+ Căn cứ vào kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên điều chỉnh quan điểm của Viện kiểm sát (đã dự thảo) cho phù hợp với diễn biến của vụ án tại phiên tòa. Phát biểu của Kiểm sát viên đại diện cho VKS tại phiên tòa phải tóm tắt nội dung tranh chấp, yêu cầu của các bên đương sự, đại diện của họ và những người tham gia tố tụng khác; phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của họ. Trên cơ sở đó đề xuất quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên phải thể hiện bằng văn bản, hiện nay chưa có văn bản mới hướng dẫn nên các kiểm sát viên vẫn có thể sử dụng mẫu Bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm theo Mẫu số 6c ban hành kèm theo Quyết định số 566/QĐ-VKSTC ngày 08/10/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và phải bổ sung thêm phần phát biểu ý kiến về đường lối giải quyết vụ án. Nội dung bài phát biểu bám sát hướng dẫn tại điều 28 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT - VKSNDTC - TANDTC ngày 31/8/2016.
Bài phát biểu của Kiểm sát viên phải có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm và đóng dấu của cơ quan Viện kiểm sát. Nếu bài phát biểu có nhiều trang cần phải đóng dấu giáp lai. Ngay sau khi kết thúc phiên tòa Kiểm sát viên phải gửi bài phát biểu cho Tòa án đề lưu vào hồ sơ vụ án.

Thông tư số 02/2016/TTLT - VKSNDTC - TANDTC ngày 31/8/2016 không hướng dẫn cụ thể về thời hạn gửi bài phát biểu của kiểm sát viên như thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC nên các Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cần thực hiện theo quy định tại Điều 262 BLTTDS năm 2015 thì Kiểm sát viên phải gửi bài phát biểu ý kiến ngay khi kết thúc phiên tòa; quy định này gây khó khăn cho Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: mặc dù bài phát biểu đã được chuẩn bị từ trước nhưng tùy theo diễn biến phiên tòa mà có thể có sự thay đổi, bổ sung sao cho phù hợp, vì vậy các Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cần phải có thời gian để sửa đổi, bổ sung chứ không thể gửi ngay cho Tòa án văn bản phát biểu ý kiến được. Đây là vướng mắc cần phải hướng dẫn cụ thể.

2.4 . Kỹ năng kiểm sát việc tuyên án

Sau khi Hội đồng xét xử nghị án và ra phòng xử án để tuyên đọc bản án, Kiểm sát viên phải chú ý lắng nghe toàn văn bản án, ghi chép đầy đủ các tình tiết, sự kiện mà Hội đồng xét xử lấy đó làm căn cứ để ra bản án. Xem xét bản án có nhận định, đánh giá và phản ánh đúng với các nội dung diễn biến tại phiên tòa hay không? Có dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa hay không? Bản án được tuyên có thực sự khách quan và phản ánh đúng ý chí của các đương sự tại phiên tòa hay không  có đúng tên tuổi địa chỉ của những ngời tham gia tố tụng hay không ? Nếu việc tuyên án chưa đảm bảo các tiêu chí nêu trên. Ngay sau khi kết thúc phiên xét xử Kiểm sát viên phải báo cáo kết quả xét xử cho Viện trưởng Viên kiểm sát hoặc Phó Viện trưởng được phân công phụ trách sát để thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

2.5. Kiểm sát biên bản phiên tòa

Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên có quyền kiểm tra biên bản phiên tòa xem thư ký phiên tòa có ghi đúng và trung thực nội dung mà các bên đương sự khai tại phiên tòa hay không? Nếu thấy việc ghi biên bản phiên tòa không đúng như diễn biến tại phiên tòa hoặc ghi không đầy đủ thì Kiểm sát viên có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản. Yêu cầu của Kiểm sát viên được thực hiện ngay và Kiểm sát viên ký xác nhận vào những nội dung sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 236 BLTTDS năm 2015. Phần ghi bổ sung này sẽ được đính kèm vào biên bản phiên tòa và được lưu vào hồ sơ vụ án và báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát để thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị theo quy định của BLTTDS.

Để thực hiện tốt các công việc nêu trên, Kiểm sát viên không chỉ cần nắm vững quy định của pháp luật mà còn cần có kinh nghiệm, bản lĩnh quan sát, nghe, ghi chép để đối chiếu với quy định của pháp luật để xác định rõ vi phạm. Sau khi xác định rõ vi phạm, Kiểm sát viên yêu cầu, kiến nghị HĐXX khắc phục kịp thời. Thái độ của Kiểm sát viên cần phải điềm đạm, khéo léo khi đưa ra các yêu cầu không nên gay gắt dễ gây ảnh hưởng đến tâm lý xét xử vụ án.

 

Nguyễn Thị Nhàn - P9 VKSND tỉnh Bắc Ninh