Việc đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan Điều tra tiến hành điều tra là một quyền năng quan trọng và cơ bản của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Quyền năng này đã được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 37 và khoản 2 Điều 112  BLTTHS năm 2003 (Điểm e, khoản 1, Điều 42 BLTTHS năm 2015)  là “Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra”. Ngoài ra, tại Điều 19 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự đã quy định “Kiểm sát viên chủ động trao đổi với Điều tra viên về những vấn đề cần điều tra ngay từ khi khởi tố vụ án, khám nghiệm hiện trường và trong quá trình giải quyết vụ án”. Thông qua bản yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên thể hiện rõ quan điểm của mình trong việc thu thập, củng cố chứng cứ và hoàn thiện thủ tục tố tụng của một vụ án hình sự; nó là quyền năng nhưng đồng thời cũng thể hiện trình độ, năng lực của Kiểm sát viên. Nếu Kiểm sát viên có trình độ, năng lực, bám sát tiến độ điều tra, nắm chắc hồ sơ vụ án thì đề ra được bản yêu cầu điều tra có chất lượng, giúp ích rất nhiều cho Điều tra viên nhằm giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và triệt để, góp phần hạn chế oan, sai hoặc phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Ngược lại, nếu Kiểm sát viên không có trình độ, năng lực, không nắm chắc tiến độ, nội dung vụ án thì chỉ đề ra những yêu cầu chung chung, thậm chí nêu lên những yêu cầu không cần thiết khiến cho Điều tra viên không thể thực hiện được, làm ảnh hưởng đến tiến độ và kết quả điều tra đối với vụ án.

Như vậy, hoạt động đề ra yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng mà mỗi Kiểm sát viên phải thực hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, thì Kiểm sát viên phải nắm chắc tiến độ điều tra, thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, yêu cầu Điều tra viên cung cấp ngay những tài liệu, chứng cứ mới thu thập được để xử lý vụ án kịp thời; trường hợp có dấu hiệu tội phạm nhưng chưa được khởi tố phải kiên quyết yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can nhằm chống bỏ lọt tội phạm. Trường hợp Cơ quan điều tra không thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát, phải kiểm tra nguyên nhân và có biện pháp phối hợp giải quyết. Kiểm sát viên phải lập hồ sơ kiểm sát, trích cứu tài liệu, mở sổ nhật ký cập nhật kịp thời, đầy đủ các thông tin, diễn biến quá trình điều tra, giải quyết vụ án.

Trong quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, việc đề ra yêu cầu điều tra có thể được thực hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Tuy nhiên, việc thực hiện bằng văn bản là cơ bản và chủ yếu, nó thể hiện đầy đủ ý chí, quan điểm của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án và được lưu trong hồ sơ tố tụng. Đối với trường hợp yêu cầu điều tra trong giai đoạn xử lý tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố thì thường Kiểm sát viên đề ra yêu cầu điều tra trực tiếp bằng lời nói hoặc thực hiện yêu cầu điều tra dưới dạng văn bản yêu cầu bổ sung chứng cứ. Tuy nhiên ở giai đoạn sau khi khởi tố vụ án, thì phải ban hành Bản yêu cầu điều tra theo đúng mẫu quy định (mẫu 20 ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008).  

Từ phân tích trên cho thấy, bản yêu cầu điều tra có vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt, là biểu hiện tập trung nhất của việc tăng cường trách nhiệm của Kiểm sát viên, gắn trách nhiệm của Kiểm sát viên với Điều tra viên trong việc điều tra vụ án hình sự. Để cho Cơ quan điều tra và Điều tra viên thực hiện nghiêm chỉnh bản yêu cầu điều tra, thì  Kiểm sát viên phải nâng cao chất lượng bản yêu cầu điều tra, góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bản yêu cầu điều tra.

Một bản yêu cầu điều tra có chất lượng phải đảm bảo cả về hình thức và nội dung. Hình thức văn bản được soạn thảo và ban hành theo mẫu quy định. Nội dung yêu cầu điều tra phải đảm bảo cụ thể, rõ ràng, đúng trọng tâm và cần thiết làm rõ những vấn đề pháp lý liên quan đến vụ án, có tính khả thi và không mang tính hình thức.

Từ thực tiễn công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, tôi cho rằng để nâng cao chất lượng bản yêu cầu điều tra cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Nâng cao nhận thức của cán bộ, Kiểm sát viên về chủ trương gắn công tố với hoạt động điều tra, về trách nhiệm công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra. Có như vậy, Kiểm sát viên mới nhận thức được về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc ban hành yêu cầu điều tra. Kiểm sát viên cần xác định việc ban hành yêu cầu điều tra là nhiệm vụ bắt buộc trong quá trình kiểm sát điều tra các vụ án hình sự và đối với bất kỳ vụ án nào và nhất thiết phải thực hiện bằng văn bản; tuyệt đối tránh hình thức, qua loa mà cần phải nêu chi tiết những vấn đề cần điều tra để Điều tra viên thực hiện.

VD: Trong một vụ án ma túy bắt quả tang, chứng cứ đã rõ ràng. Nhưng có kiểm sát viên đã không đề ra yêu cầu điều tra hoặc chỉ đề ra yêu cầu điều tra qua loa như “Lấy lý lịch và danh chỉ bản của bị can; Xác định nhân thân, tiền án, tiền sự của bị can” dẫn đến việc dễ bị trả hồ sơ do phát sinh tình tiết mới như không yêu cầu  làm rõ việc “Trước khi phạm tội bị can có bàn bạc với ai không? Số tiền mua ma túy là của ai, người đó có biết bị can dùng để đi mua ma túy không?Những tang vật thu của bị can là của ai, do đâu mà có, có từ bao giờ?..”

 Thứ hai: Kiểm sát viên tham gia nhiều hơn và tham gia ngay từ đầu vào hoạt động điều tra, đảm bảo tính khách quan và không thiên về buộc tội, đề cao vấn đề quyền con người và đảm bảo tính hợp pháp khi thực hiện các hoạt động điều tra tác động đến quyền con người; đề cao công tác phối hợp trong hoạt động tố tụng.

Kiểm sát viên phải chủ động, tiếp nhận hồ sơ tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và giai đoạn bắt đầu nghiên cứu hồ sơ phê chuẩn; xác định và nắm tổng hợp nội dung, tài liệu chứng cứ, chứng minh buộc tội, gỡ tội, nhân thân, người liên quan, tội danh…Yêu cầu điều tra phải được đề ra ngay từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố và khi vụ án được khởi tố, VKS phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, đồng thời phải được thay đổi, bổ sung khi hoạt động điều tra thu thập được những tài liệu, chứng cứ mới của vụ án mà cần thiết phải được chứng minh làm rõ. Vì thông thường ban đầu Điều tra viên chỉ chú ý đến chứng cứ buộc tội, mà những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự không chỉ có chứng cứ buộc tội, mà còn phải thu thập chứng cứ gỡ tội.

Thông qua hoạt động yêu cầu điều tra trước khi phê chuẩn là một giải pháp thiết thực, tạo điều kiện để Kiểm sát viên nắm được bản chất vụ việc và cũng tạo điều kiện để Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thống nhất quan điểm trong việc đánh giá chứng cứ, xác định tội danh và hướng xử lý đối với người phạm tội, khắc phục cơ bản việc đùn đẩy trách nhiệm hoặc “quyền anh, quyền tôi” trong hoạt động tố tụng hình sự, loại bỏ được khả năng dẫn đến oan sai ngay từ giai đoạn trước khi phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can.

Thứ ba: Trước khi ban hành bản yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, trên cơ sở những chứng cứ tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, định hướng đúng và phải có suy luận quy luật logic, không suy đoán hoặc suy diễn một cách tùy tiện dẫn đến việc đề ra yêu cầu điều tra một cách thiếu căn cứ, gây khó khăn cho quá trình điều tra.

Sau khi đã đề ra yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên phải bám sát tiến độ điều tra, kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra của Điều tra viên, các biện pháp điều tra của Điều tra viên, bảo đảm cho các yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên được thực hiện đầy đủ. Kịp thời nghiên cứu những tài liệu, chứng cứ mới phát sinh để đề ra yêu cầu điều tra bổ sung.

Thứ tư: Nội dung yêu cầu điều tra phải chi tiết, rõ ràng, cụ thể về việc lấy lời khai bị can, nhân chứng, người liên quan, bị hại, thu giữ thêm vật chứng, kế hoạch xác minh…không nêu chung chung hoặc nêu không rõ ý. Kiểm sát viên chỉ đề ra những nội dung cần thiết để củng cố chứng cứ, hoàn thiện đầy đủ thủ tục bảo đảm cho việc giải quyết vụ án. Nội dung yêu cầu điều tra cần chia ra các ý nhỏ, rõ ràng để Điều tra viên dễ hiểu và dễ thực hiện.

VD: A là đối tượng mua tài sản trộm cắp của B nhưng Cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ thì Kiểm sát viên cần nêu nội dung yêu cầu điều tra cụ thể là : A có mua tài sản của B không ? Khi mua có biết nguồn gốc tài sản đó như thế nào không ? Tại sao biết đó tài sản trộm cắp? Tại sao biết là tài sản trộm cắp mà vẫn mua? Sau khi mua đã sử dụng như thế nào, có nói cho ai biết không ?...., tránh tình trạng nội dung yêu cầu điều tra chỉ nêu "Lấy lời khai của A" nêu như vậy sẽ không rõ ràng sẽ dẫn dến việc Điều tra viên không làm rõ hết được các nội dung cần thiết.

Kiểm sát viên chỉ yêu cầu điều tra những tình tiết của vụ án chưa được điều tra hoặc đã được điều tra nhưng chưa rõ; chứng minh tính có căn cứ của những chứng cứ do Cơ quan điều tra đã thu thập; giải quyết các mâu thuẫn giữa các chứng cứ; định hướng điều tra cho sát đúng với nội dung luật định; xác định diện đối tượng cần làm rõ để khởi tố mở rộng điều tra vụ án. Những vấn đề đương nhiên Điều tra viên phải làm như lập danh chỉ bản, xác định căn cước lý lịch bị can .....thì không cần nêu, những vấn đề này bộ luật tố tụng đã quy định cụ thể Cơ quan điều tra phải thực hiện.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp, có nhiều bị can tham gia, có bị can không nhận tội thì Kiểm sát viên phải đánh giá, phân hóa từng vấn đề cần chứng minh làm rõ. Trên cơ sở đó đề ra yêu cầu điều tra từng vấn đề liên quan tới từng bị can, chú trọng yêu cầu củng cố tài liệu chứng cứ vật chất, chứng cứ có tính khách quan và các biện pháp điều tra.

Thứ năm: Tăng cường công tác lãnh đạo, điều hành để nâng cao ý thức tinh thần trách nhiệm của Kiểm sát viên, Điều tra viên đối với vụ án được phân công và có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiếm sát để có sự nhận thức chung đúng đắn về hoạt động yêu cầu điều tra cũng như trách nhiệm của việc thực hiện yêu cầu điều tra theo quy định của pháp luật.

Từng Kiểm sát viên và Điều tra viên cần phải tăng cường phối hợp chặt chẽ trong việc điều tra vụ án. Tập trung làm tốt công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử  thi, nâng cao hơn nữa ý thức, trách nhiệm, kịp thời xoá bỏ định kiến, thói quen thiếu khách quan, toàn diện trong hoạt động khởi tố, điều tra nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc khởi tố oan, sai hay bỏ lọt tội phạm.

. Thứ sáu: Lãnh đạo đơn vị cần chú trọng quan tâm việc hướng dẫn, chỉ đạo Kiểm sát viên đối với việc ra yêu cầu điều tra và cần thiết phải duyệt văn bản này trước khi ban hành. Xây dựng chuyên đề và thường xuyên tiến hành rút kinh nghiệm trong đơn vị; tăng cường công tác bồi dưỡng tại chỗ cho Kiểm sát viên về kỹ năng xây dựng bản yêu cầu điều tra. Thường xuyên tổ chức tập huấn để nâng cao trình độ của Kiểm sát viên trong việc ban hành yêu cầu điều tra. Tập hợp những bản yêu cầu điều tra có chất lượng để nhân rộng cho các Kiểm sát viên đồng nghiệp nghiên cứu, học tập.

Nâng cao chất lượng bản yêu cầu điều tra góp phần giải quyết vụ án đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật sẽ phát huy vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp.


Nguyễn Toán Cường - VKSND TP Bắc Ninh