Luật Thi hành án hình sự năm 2010, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2011, kể từ khi có hiệu lực đến nay hệ thống Cơ quan thi hành án hình sự được tổ chức chặt chẽ, việc thi hành quyết định thi hành án của Tòa án đảm bảo nghiêm chỉnh, khoa học, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Việc phối hợp giữa Cơ quan thi hành án hình sự với các cá nhân, tổ chức xã hội trong quá trình giáo dục, cải tạo người chấp hành án được thực hiện tốt, qua đó đã bảo vệ được quyền của bị án trong quá trình chấp hành án. Tuy nhiên, quá trình thực hiện Luật thi hành án hình sự còn có một số khó khăn, vướng mắc chưa được hướng dẫn cụ thể:

- Thứ nhất: Điều 1 quy định về phạm vi công tác thi hành án hình sự “Luật này quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền trong thi hành án hình sự, quyết định về hình phạt tù, tử hình, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, trục xuất, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, án treo, biện pháp tư pháp; quyền, nghĩa vụ của người chấp hành án hình sự; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án hình sự”.

Theo quy định Điều 1 Luật thi hành án hình sự thì hình phạt tiền cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thi hành án hình sự mà thuộc phạm vi điều chỉnh Luật thi hành án dân sự.

Tuy nhiên, tại khoản 1, Điều 61 Luật thi hành án hình sự quy định “Quyết định thi hành án phải ghi rõ họ tên người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành..... mức hình phạt tù và thời gian thử thách của người được hưởng án treo; hình phạt bổ sung”.

Việc khoản 1, Điều 61 Luật thi hành án hình sự quy định quyết định thi hành án cho người được hưởng án treo bao gồm cả “hình phạt bổ sung” mà không loại trừ hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, đã tạo ra sự mâu thuẫn với phạm vi điều chỉnh của Luật thi hành án hình sự quy định tại điều 1 và khó khăn cho Tòa án trong việc ra quyết định thi hành án. Thực tiễn hiện nay trong cùng phạm vi một tỉnh nhưng có Tòa án nhân dân cấp huyện ra quyết quyết định thi hành án cho người được hưởng án treo ghi cả phần hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nhưng có Tòa án lại không áp dụng. Do đó, chưa đảm bảo thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật.

- Thứ hai: Điều 24 quy định: Thi hành quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.

Quy định Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn có nhiệm vụ quản lý người được hoãn chấp hành án “Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội có nhiệm vụ quản lý người được hoãn chấp hành án. Người được hoãn chấp hành án không được đi khỏi nơi cư trú, nếu không được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã...”. Trong khi đó Điều 23 không quy định quyết định hoãn thi hành án của Tòa án phải gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi người được hoãn chấp hành án mà chỉ gửi cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp; cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự quân khu; cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hoãn thi hành án đang cư trú và Sờ tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở. Như vậy, Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn không nhận được quyết định hoãn thi hành án của  Tòa án thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn không biết để thụ lý, quản lý, theo dõi, báo cáo và dễ buông lỏng trong việc quản lý, giám sát đối với bị án được hoãn thi hành án hình sự.

Thứ ba: Điều 64 quy định: Nghĩa vụ của người được hưởng án treo.

Khoản 3, Điều 64 quy định: Trường hợp người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú từ 01 ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng, quy định này không phù hợp với thực tế và rất khó thực hiện. Vì thực tế nhiều trường hợp người được hưởng án treo đi công việc riêng với lý do chính đáng, liên tục hơn 01 ngày, như: khám bệnh ốm đau, ma chay ,cưới hỏi... cũng phải xin phép khai báo tạm vắng thì khó thực hiện.

Trên đây là một số khó khăn, vướng mắc của Luật thi hành án hình sự trong quá trình áp dụng.

Nguyễn Văn Hùng – Thanh tra Viện KSND tỉnh Bắc Ninh