Việc bổ sung hoàn thiện quyền của người làm chứng có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự đảm bảo công tác phòng ngừa và chống tội phạm được hiệu quả, hạn chế được tình trạng bỏ lọt tội phạm và hạn chế được tình trạng oan, sai trong hoạt đồng điều tra, truy tố, xét xử.

1. Những quy định cơ bản về người làm chứng của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chế định người làm chứng theo pháp luật Việt Nam khá giống với pháp luật Liên bang Nga. Tại điều 66 BLTTHS năm 2015 quy định: Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.

BLTTHS năm 2015 quy định những người không được làm chứng: Người bào chữa của người bị buộc tội; Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn.

Người làm chứng có quyền: Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ; Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia làm chứng; Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật.

Người làm chứng có nghĩa vụ: Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải; Trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết đó.

 Người làm chứng khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.

 Cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc hoặc học tập có trách nhiệm tạo điều kiện để họ tham gia tố tụng.

Về cơ chế bảo vệ người làm chứng được quy định chung trong chương XXXIV (từ Điều 484 đến Điều 490 BLTTHS) cùng với người tố giác tội phạm, bị hại và người tham gia tố tụng khác. Theo đó khi tham gia tố tụng, người làm chứng nếu bị cá nhân, cơ quan, tổ chức nào có hành vi đe doạ hoặc cưỡng bức đến bản thân hoặc người thân thích trong gia đình thì có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ được quy định tại Điều 486 BLTTHS.

+ Về trình tự thủ tục bảo vệ: Người làm chứng có đơn đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ, nội dung đơn phải đúng theo quy định tại Điều 487 BLTTHS. Trong trường hợp khẩn cấp, người làm chứng có thể đến trực tiếp cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc thông qua phương tiện thông tin liên lạc nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản đề nghị.

Sau đó Cơ quan điều tra phải kiểm tra căn cứ, tính xác thực của đề nghị, yêu cầu bảo vệ, nếu đủ căn cứ thì ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ và lập hồ sơ bảo vệ. Nếu xét thấy không cần thiết áp dụng thì phải giải thích rõ cho người đã yêu cầu, đề nghị biết.

+ Về thời gian bảo vệ: Thời gian bảo vệ người làm chứng được tính từ khi có quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ cho đến khi có quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại Điều 489 BLTTHS.

+ Về thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ người làm chứng: Theo quy định tại Điều 485 BLTTHS thì chỉ có hai cơ quan là Cơ quan điều tra của Công an nhân dân và Cơ quan điều tra của Quân đội nhân dân có quyền áp dụng biện pháp bảo vệ do cơ quan mình thụ lý hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân cùng cấp; đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Như vậy, so với BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015 có một số điểm mới. Nếu như BLTTHS năm 2003 quy định trong giai đoạn xác minh tố giác, tin báo về tội phạm chưa phát sinh tư cách người làm chứng, thì  BLTTHS năm 2015: quy định thời điểm người làm chứng tham gia tố tụng sớm hơn, kể từ khi cơ quan có thẩm quyền xác minh các nguồn tin về tội phạm. Đồng thời, xác định rõ cơ chế, biện pháp bảo vệ người làm chứng, tạo tâm lý an tâm cho người tham gia làm chứng khi tham gia tố tụng nhất là những vụ án phức tạp có tổ chức.

 Đây là bước tiến mới của BLTTHS năm 2015 thể hiện tinh thần cải cách tư pháp của nước ta đáp ứng yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với pháp luật quốc tế. Đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động của Cơ quan tiến hành tố tụng trong việc đấu tranh, phòng chống tội phạm, chống oan sai và bỏ lọt tội phạm, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh, kinh tế, pháp luật trong điều kiện đất nước đang trong quá trình hội nhập.

2. Một số vấn đề xuất

- Về quyền của người làm chứng: Chúng tôi cho rằng, một trong những lý do khiến người làm chứng từ chối khai báo hoặc từ chối cung cấp thông tin vì liên quan đến hoạt động chuyên môn nghề nghiệp nhất là các lĩnh vực: Công nghệ thông tin, Bác sỹ, Dược sỹ…, họ sợ nếu lộ những thông tin này thì sẽ ảnh hưởng đến tính độc quyền, tính lợi nhuận của họ trong công việc và hậu quả thiệt hại của việc tiết lộ thông tin này thì ai sẽ là người phải chịu trách nhiệm, ai sẽ là người bồi thường cho họ. Vì vậy, pháp luật của một số nước như  Đức, Nhật, Mỹ…quy định nhân chứng có quyền từ chối khai báo, từ chối cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động nghề nghiệp và nếu họ khai báo thì sẽ được đảm bảo theo quy định của pháp luật. Trong khi đó BLTTHS năm 2015 của nước ta chưa quy định cơ chế đảm bảo quyền này nên rất nhiều trường hợp nhân chứng từ chối khai báo, từ chối cung cấp thông tin cho Cơ quan tiến hành tố tụng (xem BLTTHS Đức, Nhật, Mỹ về chế định nhân chứng).

Do vậy, chúng tôi đề xuất sớm có văn bản hướng dẫn cho người làm chứng được thực hiện quyền này hoặc bổ sung mở rộng thêm lý do, đối tượng nhân chứng được thực hiện quyền này vào Điều 66 BLTHS năm 2015. Theo đó nên bổ sung người làm chứng có quyền từ chối cung cấp thông tin liên quan đến hoạt nghề nghiệp nhất định như: Trong sở hữu trí tuệ, sáng chế, sản xuất, công nghệ sinh hoá, vi sinh…., mang tính độc quyền mà nếu bị lộ thì sẽ gây thiệt hại lớn cho họ và xã hội. Ví dụ: Trong lĩnh vực sinh học về biến đổi gen, trong lĩnh vực nghiên cứu y học về virút nếu bị lộ sẽ có nguy cơ đe doạ đến sự oan toàn của xã hội.

-  Về trách nhiệm người làm chứng: Theo quy định tại Điều 66 BLTTHS năm 2015 người làm chứng phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền, nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị dẫn giải, trình bày trung thực những gì mình biết. Nếu khai báo gian dối, trốn tránh thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Nhưng đến mức nào mới phải chịu trách nhiệm hình sự thì vẫn còn chung chung, hình thức xử lý ra sao còn chưa quy định nên khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng. Thực tiễn nhiều các vụ án hình sự liên quan đến gia đình, đồng nghiệp, bạn bè…, nên người làm chứng không giám khai báo, hoặc có khai thì cũng không đúng sự thật và họ luôn tìm cách trốn tránh. Vì thế theo quan điểm của chúng tôi nên quy định nếu nhân chứng đã được triệu tập hợp lệ mà không đến thì đầu tiền phải chịu thiệt hại về chi phí, sau đó có thể bị phạt tiền, mức phạt tiền cũng tương đối lớn, vì thế buộc người làm chứng phải có mặt tại Cơ quan tiến hành tố tụng, còn họ khai báo gian dối thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật định.

 Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi đề nghị cần hướng dẫn cụ thể việc áp dụng chế định này và nên bổ sung phạt tiền nếu người làm chứng cố ý vắng mặt. Đặc biệt xác định mức độ khai báo gian dối của người làm chứng dẫn đến hậu quả như thế nào thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Về bảo vệ người làm chứng: 

Người làm chứng luôn có tâm lý sợ bị trả thù, bị ảnh hưởng đến bản thân và gia đình, đặc biệt hiện nay xuất hiện nhiều nhóm tội phạm mang tính chất côn đồ, tội phạm có tổ chức luôn có vũ khí “nóng” sẵng sàng đâm, chém người làm chứng hoặc đe doạ thân nhân người làm chứng. Pháp luật nhiều nước tiên tiến trên thế giới có quy định về chế định bảo vệ nhân chứng, thành lập cơ quan bảo vệ nhân chứng và chi phí khoản tiền lớn cho hoạt động này. Điển hình như: quy định Bộ trưởng Bộ tư pháp Hoa kỳ là người xem xét cho nhân chứng và người thân khi gặp nguy hiểm tham gia chương trình bảo vệ người làm chứng, với điều kiện nhân chứng phải ký cam kết về nội dung, phương án bảo vệ, việc giám hộ, thăm nom và biện pháp xử lý vi phạm….Người tham gia chương trình bảo vệ nhân chứng được đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe và tài sản cùng các phúc lợi xã hội khác. Tại Liên bang Nga năm 2004 nước này ban hành Luật bảo vệ nhân chứng, đến năm 2006 Chính phủ Nga thông qua chương trình Nhà nước bảo vệ nạn nhân và nhân chứng và những người tham gia tố tụng khác với số tiền lên đến 1 tỷ rúp (tương đương 633 tỷ đồng) cho riêng giai đoạn 2006 đến 2008. Ngày 23/6/2010 Nga thành lập Cục bảo vệ nhân chứng và Quan toà trực thuộc Bộ nội vụ liên bang nhằm bảo vệ những người thuộc diện bảo vệ của nhà nước. Tại Thái Lan, nhân chứng trong các vụ án rửa tiền, buôn bán ma tuý, tham nhũng, mại dâm trẻ em hay tội ác có tổ chức được tham gia chương trình bảo vệ nhân chứng trong một năm, nhân chứng và người thân được đưa đến nơi an toàn, được trợ cấp hàng tháng, được đào tạo nghề nếu nhân chứng có nhu cầu và nhân chứng được bồi thường khi họ bị thương hay bị sát hại trong thời gian tham gia chương trình. Tại Philippines, năm 1991 Bộ tư pháp nước này đã triển khai trương trình trợ cấp an ninh và bảo vệ nhân chứng, tham gia chương trình nhân chứng, người làm chứng và người thân có thể thay đổi chỗ ở, trợ cấp tiền bạc, thanh toán chi phí đi lại và trợ cấp đi lại(1).Tại nước Anh, trong năm 2002 – 2003 có 2.845 vụ án ở Toà án Hoàng gia Anh và 13.328 vụ án ở Toà sơ thẩm đã bị hoãn vì nhân chứng vắng mặt, chiếm 22% và 26% số vụ án bị hoãn. Cơ quan kiểm toán Anh ước tính mỗi năm phiên toà bị hoãn gây thiệt hại khoảng 41 triệu bảng (hơn 1.000 tỷ đồng)(2). Ngay trong quy chế Rome về Toà án hình sự quốc tế cũng đã quy định giải pháp bảo vệ nhân chứng và nạn nhân bằng các biện pháp phòng ngừa và lập phòng nạn nhân, phòng nhân chứng(3).

Ở Việt Nam, việc bảo vệ người làm chứng nói riêng được quy định lần đầu tiên tại Chương XXXIV Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đây là bước tiến quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta trong việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân và tạo tâm lý an tâm cho người làm chứng tham gia tố tụng. Tuy nhiên, qua nghiên cứu chế định bảo vệ người làm chứng nói riêng và bảo vệ người tố giác tội phạm, bị hại, người tham gia tố tụng khác còn một số vướng mắc như:

+ Về thời hạn thụ lý giải quyết: Theo quy định BLTTHS năm 2015 người làm chứng có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc trong trường hợp khẩn cấp thì có thể đến trực tiếp cơ quan đề nghị hoặc thông qua phương tiện thông tin liên lạc nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 không quy định trong thời hạn bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận được đơn của người làm chứng yêu cầu bảo vệ thì cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Điều này sẽ không tránh khỏi việc cơ quan có thẩm quyền áp dụng tuỳ tiện, không kịp thời, thậm chí còn không muốn áp dụng vì liên quan đến kinh phí, cơ sở vật chất phục vụ người được bảo vệ và quản thúc việc đi lại của họ, nhất là những vụ án có nhiều nhân chứng, nhiều bị hại cùng có đề nghị bảo vệ.

Do vậy, chúng tôi đề xuất cần quy định cụ thể trong thời hạn bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận được đề nghị, yêu cầu của người được bảo vệ nói chung và người làm chứng nói riêng thì cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định bảo vệ. Trong trường hợp khẩn cấp nếu họ trực tiếp đến cơ quan có thầm quyền đề nghị, yêu cầu thì cơ quan có thẩm quyền có thể xác minh ngay và ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ để bảo đảm tính mạng, sức khỏe của họ.

+ Về thẩm quyền áp biện pháp bảo vệ: Theo quy định tại Điều 485 BLTTHS thì thì chỉ có Cơ quan điều tra của Công an nhân dân; Cơ quan điều tra của Quân đội nhân dân có quyền áp dụng biện pháp bảo vệ do cơ quan mình thụ lý. Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân các cấp nếu thấy cần áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ nói chung, người làm chứng nói riêng thì đề nghị Cơ quan điều tra trực tiếp thụ lý vụ án hình sự ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ, đề nghị phải được thể hiện bằng văn bản. Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương nếu xét thấy cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ trong vụ án hình sự do mình thụ lý thì giải quyết thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ưng có văn bản đề nghị với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra Bộ công an; Cơ quan điều tra hình sự, Cơ quan an ninh điều tra Bộ quốc phòng để ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ.

Theo quan điểm của chúng tôi phạm vi áp dụng biện pháp bảo vệ chỉ giao cho hai cơ quan là Cơ quan điều tra hình sự của Bộ công an và Cơ quan điều tra hình sự của Bộ quốc phòng còn hẹp chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ quền hạn của Viện kiểm sát. Vì Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “ Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp…Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” (Điều 107 Hiến pháp năm 2013) và tại Điều 20 BLTTHS năm 2015 cũng khẳng định “ Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội”.

Như vậy, với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp thì việc bảo vệ người làm chứng càng thể hiện quyết tâm buộc tội của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự từ giai đoạn khởi tố vụ án đến giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Đặc biệt trong giai đoạn truy tố khi hồ sơ đã chuyển sang Viện kiểm sát, nếu người làm chứng có đơn yêu cầu bảo vệ chính đáng thì theo BLTTHS năm 2015 Viện kiểm sát đề nghị Cơ quan điều tra ra quyết định bảo vệ nhưng vì lý do nào đó Cơ quan điều tra không ra quyết định bảo vệ thì vừa ảnh hưởng đến tâm lý người làm chứng và vừa ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân của họ, từ đó sẽ khó khăn cho Viện kiểm sát khi phải củng cố chứng cứ để truy tố. Mặt khác, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao là một trong những cơ quan điều tra chuyên trách nhưng lại không được quyết định việc áp dụng biện pháp bảo vệ nhân chứng là bất hợp lý. Vì thế, theo quan điểm của chúng tôi trong đoạn truy tố với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp thì Viện kiểm sát có quyền ra quyết định bảo vệ người làm chứng nói riêng và người cần được bảo vệ nói chung  mới tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát. Khi tiến hành điều tra các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp theo thẩm quyền, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ nhân chứng mà BLTTHS quy định.

- Về cơ sở vật chất và kinh phí: Trong thời gian tới chế định bảo vệ người làm chứng sẽ được thực hiện nhưng hiện trạng cơ sở vật chất để phục vụ cho việc bảo vệ người làm chứng theo quy định của BLTTHS năm 2015 vẫn chưa được triển khai do chưa có hướng dẫn cụ thể. Vì thế khi BLTTHS năm 2015 được thực thi thì  người làm chứng có yêu cầu được bảo vệ thì cơ quan tiến hành tố tụng phải làm như thế nào, kèm theo đó là hàng loạt kinh phí như kinh phí đi lại, sinh hoạt mua sắm, ăn ở, làm việc, học tập, thăm nom của người nhà, bạn bè…Đặc biệt những vụ án có nhiều nhân chứng, nhiều bị hại và có nhiều người yêu cầu được bảo vệ. Do vậy, nếu chúng ta có sự chuẩn bị và thực hiện tốt thì sẽ đảm bảo quyền của họ, đảm bảo pháp luật được thực thi. Nhưng ngược lại nếu chúng ta thực hiện không tốt sẽ không tránh khỏi Cơ quan điều tra sẽ gây khó khăn cho người làm chứng khi họ có yêu cầu được bảo vệ vì Cơ quan điều tra lo ngại không đủ kinh phí để đảm bảo cho họ, dẫn đến người làm chứng mất niềm tin vào quy định của pháp luật, mất niềm tin vào cơ quan tiến hành tố tụng, không thể hiện được sự tôn nghiêm của pháp luật. Vì thế cần sớm có hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng và triển khai thực hiện chế định này.

- Về công tác tuyên truyền: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 trên cơ sở thể chế hoá Hiến pháp năm 2013 và kế thừa những tinh hoa của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và tham khảo nhiều pháp luật tiên tiến trên thế giới nên đã phát huy được quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự, trong đó có quyền được bảo vệ của người làm chứng. Tuy nhiên, không phải người làm chứng nào cũng nhận thức được quyền này của mình, nhất là những người sống ở các vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn, cảm giác của họ khi đến cơ quan tiến hành tố tụng tiếp xúc với cán bộ họ rất sợ. Vì vậy, theo quan điểm của chúng tôi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án cần phối hợp với các cơ quan như Uỷ ban Mặt trận tổ quốc, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Uỷ ban nhân dân xã …. Tổ chức các buổi tuyên truyền phổ biến về pháp luật hình sự, tố tụng hình sự nói chung và quyền được bảo vệ của người làm, người bị hại nói riêng. Đồng thời tăng cường  tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông như Đài phát thanh, cổng thông tin điện tử…Có như vậy công dân sẽ sớm biết được quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia làm chứng trong vụ án hình sự.

Người làm chứng là một trong những người tham gia tố tụng thường có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự bởi lời khai của họ là một trong những nguồn chứng cứ, không chỉ pháp luật Việt Nam mà hầu hết nền pháp luật trên thế giới đều khẳng định vị trí quan trọng của người làm chứng. Với những nghiên cứu và kiến nghị của mình trên đây, chúng tôi mong rằng sẽ góp phần đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người làm chứng góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa và chống tội phạm.

                                                                                                                                                
* Ghi chú:

 (1) Xem báo pháp luật TP Hồ Chí Minh, ngày 31/8/2007,tr 11.

(2) Nguyễn Thái Phúc, bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng trong tố tụng hình sự, Tạp chí khoa học pháp lý số 03 (tr 40) năm 2007.

(3) Xem: Điều 68 Quy chế Rôm về Toà án hình sự quốc tế (biên dịch), Nxb Tư pháp, Hà Nội năm 2006, tr 418.

Nguyễn Văn Hùng - Viện KSND huyện Lương Tài