Một trong những nội dung đổi mới quan trọng của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS 2015) đó là tách truy tố khỏi phần điều tra và xây dựng thành một phần độc lập trong Bộ luật (Phần thứ ba). So với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, BLTTHS 2015 đã quy định mới, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố (Điều 236) và nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát trong giai đoạn truy tố (Điều 237). Đây là những quy định rất quan trọng, lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, tạo cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát tăng cường vai trò, trách nhiệm của mình, thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ trong tố tụng hình sự.

Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin đưa ra ý kiến trao đổi về quy định cụ thể tại Khoản 4 Điều 236 BLTTHS 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố:

“… 4. Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra”

Theo quy định này, Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đọan truy tố có ba quyền hạn: Quyết định khởi tố (vụ án, bị can); Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố (vụ án, bị can); Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố (vụ án, bị can). Tuy nhiên, quy định tại Khoản 4 Điều 236 nêu trên cũng hạn chế phạm vi thực hiện ba quyền hạn trên là chỉ thực hiện trong hai trường hợp: còn có hành vi phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra; còn có người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra.

Theo quy định của BLTTHS 2015 về khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố (vụ án, bị can) thì:

1. Về khởi tố: khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm (Điều 143 BLTTHS năm 2015), khởi tố bị can khi có đủ căn cứ xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm (Điều 179 BLTTHS 2015).

2. Về thay đổi quyết định khởi tố: thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra (Điều 156 BLTTHS 2015); thay đổi quyết định khởi tố bị can khi tiến hành điều tra nếu có căn cứ xác định hành vi của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố, hoặc quyết định khởi tố bị can ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can (Điều 180 BLTTHS 2015).

3. Về bổ sung quyết định khởi tố: bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định còn tội phạm khác chưa bị khởi tố (Điều 156 BLTTHS 2015); bổ sung quyết định khởi tố bị can khi có căn cứ xác định bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm (Điều 180 BLTTHS 2015).

Như vậy, nếu đối chiếu với các quy định của BLTTHS 2015 về khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố (vụ án, bị can) với hai trường hợp Viện kiểm sát được thực hiện ba quyền hạn khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố (vụ án, bị can) tại Khoản 4 Điều 236 BLTTHS 2015 ta thấy rằng quy định phạm vi hai trường hợp Viện kiểm sát được thực hiện ba quyền hạn này là chưa phù hợp. Bởi lẽ: tương ứng với trường hợp còn có hành vi phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra thì Viện kiểm sát thực hiện quyền bổ sung quyết định khởi tố (vụ án, bị can); tương ứng với trường hợp còn có người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra thì Viện kiểm sát thực hiện quyền khởi tố (vụ án, bị can). Do vậy, với quy định “trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra” (Khoản 4 Điều 236 BLTTHS 2015) thì Viện kiểm sát chỉ thực hiện được hai quyền hạn đó là khởi tố, và bổ sung quyết định khởi tố (vụ án, bị can). Còn quyền thay đổi quyết định khởi tố (vụ án, bị can) thì tuy có quy định nhưng trong giới hạn hai trường hợp trên thì không có trường hợp nào để thực hiện quyền hạn này.

Không chỉ trong bản thân (xét về mặt nội dung) Khoản 4 Điều 236 BLTTHS 2015 có điểm quy định chưa phù hợp, mà xét trong tổng thể các quy định của BLTTHS 2015 (xét về mặt kỹ thuật lập pháp) về quyết định khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố (vụ án, bị can), ta thấy rằng quy định trong Khoản 4 Điều 236 BLTTHS 2015 cũng chưa phù hợp. Cụ thể: tại Khoản 2 Điều 41 BLTTHS 2015 quy định chung về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát thì:

“… 2. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn:

a)… quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật này

Đó là quy định chung, còn cụ thể trong giai đoạn điều tra, tại Điều 165 BLTTHS 2015 có quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự:

“… 3. Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can trong các trường hợp do Bộ luật này quy định…”

Đến giai đoạn truy tố, Khoản 4 Điều 236 BLTTHS 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố:

“… 4. Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra”.

            Như vậy, theo quy định về quyền hạn chung, quyền hạn trong giai đoạn điều tra, quyền hạn trong giai đoạn truy tố thì Viện kiểm sát đều có quyền quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố (vụ án, bị can). Tuy nhiên, theo quy định chung, quy định trong giai đoạn điều tra, thì Viện kiểm sát thực hiện ba quyền hạn này “trong các trường hợp do Bộ luật này quy định”, còn trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thực hiện ba quyền hạn này “trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra”. Qua đây, cho thấy sự chưa phù hợp về mặt kỹ thuật lập pháp trong quy định giữa cái chung và cái cụ thể, và giữa các cái cụ thể với nhau.

            Ngoài ra, xét về mặt thực tiễn, quy định Khoản 4 Điều 236 BLTTHS 2015 cũng là chưa thực sự phù hợp. Giả sử có vụ án hình sự đã kết thúc điều tra chuyển Viện kiểm sát để truy tố, quá trình truy tố Viện kiểm sát phát hiện tội danh đã khởi tố đối với bị can là chưa đúng (Ví dụ: không phải tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mà đúng phải là tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản); hoặc phát hiện một chi tiết nào đó về nhân thân của bị can được ghi chưa đúng trong quyết định khởi tố bị can. Trong hai trường hợp này, chỉ bằng một thao tác nhỏ là ra Quyết định thay đổi quyết định khởi tố (vụ án, bị can) sẽ khắc phục được sai sót trong vụ án. Tuy nhiên, nếu theo quy định của Khoản 4 Điều 236 BLTTHS 2015 thì không có trường hợp nào thỏa mãn để Viện kiểm sát ra Quyết định thay đổi quyết định khởi tố (vụ án, bị can) mặc dù Viện kiểm sát có quyền thay đổi. Vì vậy, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi, rồi lại chuyển cho Viện kiểm sát để truy tố. Vô hình chung, việc trả hồ sơ cho cơ quan điều tra vì một sai sót nhỏ (mà Viện kiểm sát có thể khắc phục được trong giai đoạn truy tố) là không cần thiết, làm tăng tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Từ những phân tích ở trên, thiết nghĩ các nhà lập pháp cần xem xét lại quy định tại Khoản 4 Điều 236 BLTTHS 2015 nêu trên, sửa đổi cho phù hợp. Cá nhân tôi cho rằng nên sửa Khoản 4 Điều 236 BLTTHS 2015 như sau:

“… 4. Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can trong các trường hợp do Bộ luật này quy định…”  như quy định quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, và cũng là phù hợp với quy định về quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung. Xin đưa ra quan điểm của mình để cùng bạn đọc, đồng nghiệp trao đổi, thảo luận, nghiên cứu.

 

Nguyễn Thị Trang Liên - VKSND thành phố Bắc Ninh