Vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn cũng như chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn là một phần việc khá phức tạp, khó khăn khi giải quyết vụ án Tranh chấp HNGĐ, đòi hỏi khi nghiên cứu giải quyết dạng tranh chấp này cần nghiên cứu dưới con mắt đa chiều, vận dụng quy định của pháp luật là vấn đề cốt lõi, xuyên suốt, tuy nhiên không thể thiếu sự cảm thông chia sẻ, sự thấu hiểu hoàn cảnh… để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người phụ nữ khi ly hôn đúng theo tinh thần của Khoản 5 Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn là “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên….”.
Ngày 19/11/2025, Tôi đã tham gia xét xử phúc thẩm đối với vụ án “Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn” giữa: nguyên đơn là bà Đỗ Thị Mến, sinh năm 1966; địa chỉ: thôn Tân Lập, xã Tân Yên, tỉnh Bắc Ninh và bị đơn là ông Trương Văn Oanh, sinh năm 1960; địa chỉ: thôn Cả Am, xã Phúc Hoà, tỉnh Bắc Ninh.
Ngay từ khi tiếp cận nghiên cứu hồ sơ vụ án bằng việc đọc Bản án sơ thẩm đầu tiên, Tôi đã nhận thấy sự thiếu công bằng trong việc phân chia tài sản chung vợ chồng sau khi ly hôn, cảm thấy thiếu một chút gì đó của sự cảm thông chia sẻ đối với người phụ nữ khi phải ly hôn.... Bởi từ khi kết hôn với ông Oanh năm 2002 và là người vợ thứ 2 của ông Oanh thì bà Mến đã về ở cùng ông Oanh trên thửa đất có diện tích 1.344m2 (đất ở là 400m2, đất vườn là 944 m2) với giá trị hơn 700.000.000 đồng (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông Oanh từ năm 2000 - trước khi kết hôn với bà Mến). Tòa án sơ thẩm đã xác định đây là tài sản riêng của ông Oanh, không phải là tài sản chung của bà Mến và ông Oanh xác lập trong thời kỳ hôn nhân nên Tòa án sơ thẩm không chia tài sản này cho bà Mến mà chỉ trích chia công sức đóng góp, chăm sóc bảo quản tài sản cho bà Mến với số tiền 10.000.000 đồng cho 21 năm chung sống, tính bình quân chưa đến 500.000 đồng/1 năm.
Tuy nhiên bằng trực giác và mong muốn bảo vệ cho người phụ nữ được gọi là “phái yếu” tôi đã lật giở từng trang tài liệu do Tòa án thu thập, lời trình bày của từng đương sự trong vụ án, kết hợp sự đánh giá chứng cứ.... Và tôi đã đưa ra đề xuất báo cáo án với lãnh đạo đơn vị là cần phải xem xét lại việc trích chia công sức đóng góp, chăm sóc, duy trì, bảo quản tài sản cho bà Mến với một khoản tiền hợp lý, cao hơn mức quyết định của Tòa án sơ thẩm để bà Mến vơi đi phần nào thiệt thòi khi ly hôn.
Và tại phiên tòa phúc thẩm thì đề xuất của tôi lại một lẫn nữa khẳng định bằng việc các bên đương sự cùng trình bày là trong khoảng thời gian chung sống cùng bà Mến thì từ khoảng năm 2014 đến năm 2023 ông Oanh đã bỏ đi Miền Nam làm ăn, không quan tâm chăm sóc đến vợ con, không gửi một khoản tiền nào về chăm lo cho gia đình, chăm sóc con chung, một mình bà Mến ở nhà nuôi dạy con cái, chăm lo nhà cửa, ruộng vườn… nên Tôi đã đề nghị với Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bà Mến, sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng tiền trích chia công sức lên cho bà Mến và đã được Hội đồng xét xử chấp nhận sửa án theo đề nghị của Viện kiểm sát.
Sau phiên tòa tôi cảm thấy mình đã làm tròn chức năng của Viện kiểm sát nhân dân, bảo vệ thành công quyền và lợi ích chính đáng cho người phụ nữ, tuy khoản tiền trích chia không cao so với khối tài sản còn lại của người chồng nhưng đó là sự bù đắp, sự chia sẻ, sự cảm thông… phần nào cho một số phận kém may mắn khi gia đình tan vỡ.
Bản thân tôi cảm thấy vui… khi mình đã đứng về lẽ công bằng./.
Hà Thị Hải- Phòng 9


















Thông tin tuyển dụng, đấu thầu, thanh lý